Sổ tay giáo dục
  • SỰ KIỆN XÃ HỘI HỌC SƠ ĐẲNG (G. TARDE, 1894)

    Gabriel Tarde* và Émile Durkheim* là hai nhà xã hội học đầu đàn trong thời kỳ xây dựng môn học này ở Pháp (cuối thế XIX - đầu thế kỷ XX). Do trường phái duy xã hội luận (sociologism) của Durkheim và môn đồ nắm vai trò thống trị ở các đại học, quan điểm của Tarde đương thời không phát triển nổi trên quê hương của ông...

    Xem tiếp >>
  • CUỘC CÁC MẠNG 1789 VÀ XÃ HỘI HỌC PHÁP (R. NISBET, 1943)

    Ảnh hưởng của cuộc Đại Cách mạng Pháp trên nền móng của bộ môn xã hội học quốc gia là một sự kiện lẽ ra phải được quan tâm nhiều hơn là nó đã nhận được trên thực tế. Bởi vì trong lịch sử của phần lý thuyết xã hội học ở Pháp...

    Xem tiếp >>
  • QUAN HỆ NHÂN QUẢ (R. CARNAP, 1966)

    Cách tiếp cận của nhà lô-gic học Rudolf Carnap nằm trong dòng phê phán quan hệ nhân quả của David Hume. Thực vậy, đối với Hume, không có tương quan thiết yếu giữa cái mà ta gọi là «nhân» với cái mà ta chỉ định là «quả». Từ sự kiện ổ bánh mì tôi ăn ngày hôm qua đã nuôi dưỡng tôi...

    Xem tiếp >>
  • KHOA HỌC TỰ NHIÊN & KHOA HỌC TINH THẦN (W. DILTHEY, 1883 & 1894)

    Ở thế kỷ XIX, trong khi ở Pháp và Anh, mỗi khoa học nhân văn và xã hội đều tìm cách đưa vào lĩnh vực của mình – như Émile Durkheim và Herbert Spencer trong xã hội học – các phương pháp đã giúp loại khoa học tự nhiên đạt được những thành quả lớn lao về tri thức, thì ở Đức hình thành một trào lưu trái ngược...

    Xem tiếp >>
  • QUY NẠP TOÁN HỌC (H. POINCARÉ, 1909)

    Trong trích đoạn dưới đây, Henri Poincaré đã đề cập chính xác tới một lý thuyết về suy luận toán học, theo đó, khi chúng ta nghiên cứu tư tưởng toán học «nơi nó vẫn còn là toán học thuần túy, nghĩa là trong số học», thì chúng ta sẽ thấy, «ở mỗi bước chân», một phương thức nhất quán, và đấy là một phép quy nạp thực sự...

    Xem tiếp >>
  • TOÁN HỌC VÀ TRIẾT HỌC (M. BLACK, 1933)

    Sự thành công của phương pháp khoa học đã khiến giới triết gia mơ tưởng tới một thứ triết lý mang tính khoa học, và có triển vọng một ngày nào đó đạt được mức độ chắc chắn, cũng như những thành tựu chồng chất của khoa học...

    Xem tiếp >>
  • CHIỀU KÍCH THỜI GIAN TRONG SINH HỌC (F. MEYER, 1967)

    Ý niệm « lịch sử tự nhiên» không đề cập đến bất kỳ loại nghiên cứu lịch sử nào theo nghĩa hiện nay của từ này. Thế nhưng sinh học tích hợp vào cách tiếp cận của nó một kích thước lịch sử trọn vẹn...

    Xem tiếp >>
  • SỰ SỐNG (ARISTOTELÊS, khg 335-323 tCn)

    Như vậy, ta đặt như điểm khởi đầu cho cuộc điều tra của chúng ta rằng sự sống chính là cái phân biệt vật sinh động với vật bất động. Nhưng từ sự «sự sống» có nhiều nghĩa, và chỉ cần một trong các nghĩa này được thể hiện nơi một chủ thể là chúng ta có thể nói rằng nó sống [là một sinh vật]...

    Xem tiếp >>
  • TỪ GIẢ THUYẾT-DIỄN DỊCH ĐẾN THỰC TIỄN THÍ NGHIỆM (G. VAILATI, 1898)

    Trong những sự kiện hiện ra một cách bộc phát cho sự quan sát, việc không thể nào tìm thấy đầy đủ chất liệu để xác nhận các kết luận mà phần diễn dịch [phần suy diễn từ giả thuyết khoa học] dẫn tới – bởi vì dù chặt chẽ và đúng đắn đến đâu...

    Xem tiếp >>
  • CUỘC CÁCH MẠNG CỦA GALILEO TRONG VẬT LÝ HỌC THẾ KỶ 17 (A. KOYRÉ, 1943)

    Nếu khái niệm tiến bộ tuyến tính dường như rất «có vấn đề» trong sự phát triển của lịch sử nói chung, thì nó vẫn có vẻ như hoàn toàn thích hợp, ít nhất ở một lĩnh vực là lịch sử các khoa học. Sự sàng lọc và tinh tế hóa dần dần tri thức của ta, những tiến bộ kỹ thuật nhờ vào, đồng thời thúc đẩy trở lại, các bước tiến của khoa học, đã có thể cho phép chúng ta bênh vực và duy trì lâu năm một quan điểm như vậy.

    Xem tiếp >>
  • SEMMELWEIS VÀ BỆNH SỐT HẬU SẢN (C. HEMPEL, 1966)

    Ignace Semmelweis, một y sĩ gốc Hung, làm việc tại Bệnh viện Đa khoa Wien từ năm 1844 đến 1848. Như y sĩ thuộc một trong hai khu sản khoa – đầu tiên – của bệnh viện, ông điên đầu khi thấy một tỷ lệ sản phụ cao bị lây nhiễm căn bệnh nghiêm trọng...

    Xem tiếp >>
  • Ý NIỆM LỖI TRONG Y HỌC (G. CANGUILHEM, 1966)

    Việc đưa khái niệm lỗi (erreur) vào bệnh lý là một sự kiện có tầm quan trọng lớn, vừa bởi sự đột biến mà nó biểu hiện (hơn là mang lại) trong thái độ của con người trước trạng thái bệnh, vừa bởi cái quy chế mới mà nó giả định đã được thiết lập trong quan...

    Xem tiếp >>
  • NGUYÊN TỬ, CƠ THỂ, CHỮ CÁI, TỪ (G. B. DE SAINT ROMAIN, 1679)

    Giữa các phẩm chất của những yếu tố đơn giản như nguyên tử, và các phẩm chất của những cơ thể được cấu thành từ chúng như hợp chất, có sự khác biệt này: những yếu tố thứ nhất là bất biến và không thể bị hủy hoại như các nguyên tử; còn những yếu tố kia có thể thay đổi...

    Xem tiếp >>
  • KHOA HÓA HỌC TỰ TẠO RA ĐỐI TƯỢNG CỦA NÓ (M. BERTHELOT, 1860)

    [...] Sự hình thành các phân tử hữu cơ cung cấp những dữ liệu có giá trị nhất cho lý thuyết cơ học về các lực phân tử. Thật vậy, nó tạo ra một loạt kết hợp vừa đa tạp vừa đều đặn, phát sinh từ cùng một định luật tổng quát, nhưng với một biến đổi dần dần trong kết cấu của chúng. Từ kết hợp này sang kết hợp khác, người ta có thể đạt đến sự tăng dần mức độ nào ta muốn. [...]

    Xem tiếp >>
  • LÝ LUẬN HÌNH THỨC (B. RUSSELL, 1919)

    Lô-gic học truyền thống nói: «Mọi con người đều là có thể chết; Sôkratês là một con người; Do đó, Sôkratês là có thể chết»[1]. Trước hết, điều chúng tôi muốn khẳng định là các tiền đề bao hàm kết luận, chứ không phải là các tiền đề và kết luận đều đúng trong hiện thực...

    Xem tiếp >>
  • LÔ-GIC HỌC VÀ NGỮ PHÁP (R. BLANCHÉ, 1957)

    Bây giờ, chúng ta được dẫn đến một đặc điểm cơ bản [của lô-gic học đương đại]: sự thay thế những hình thức ngữ pháp bằng các hình thức lô-gic – hay nói chính xác hơn: sự thay thế loại ngữ pháp của ngôn ngữ tự nhiên của ta bằng một thứ ngữ pháp...

    Xem tiếp >>
  • PHẦN LỖI THỜI, PHẦN ĐƯỢC THỪA NHẬN TRONG LỊCH SỬ KHOA HỌC (G. BACHELARD, 1951)

    Cháu chắt của chúng ta có thể sẽ còn không quan tâm gì đến thứ khoa học của những cụ cố của chúng nữa. Chúng sẽ không nhìn thấy ở đấy cái gì khác hơn là một viện bảo tàng những tư tưởng không còn tác động, hoặc ít ra chỉ còn là cái cớ để đòi hỏi cải cách giáo dục...

    Xem tiếp >>
  • PHÁN ĐOÁN GIÁ TRỊ TRONG LỊCH SỬ KHOA HỌC (G. BACHELARD, 1951)

    Tính tích cực tuyệt đối của tiến bộ khoa học này sẽ hiển hiện như điều không thể nào phủ nhận được, nếu chúng ta xem xét lịch sử của một khoa học gương mẫu: lịch sử toán học. Ở đây, rõ ràng là chúng ta không thể mô tả một sự suy đồi nào, bởi vì một giảm sút trong tính chặt chẽ của những chân lý...

    Xem tiếp >>
  • LỊCH SỬ KHOA HỌC TRONG GIÁO DỤC (G. BACHELARD, 1951)

    Thực ra, chúng ta phải lưu ý tới việc trao truyền khoa học từ thế hệ này sang thế hệ khác, việc xây dựng tinh thần khoa học, và việc ghi sâu tư tưởng khoa học vào tâm khảm con người. Bằng công thức này, theo phong cách của nhân học triết học đương đại, tôi muốn đặt dấu nhấn trên năng lực và hiệu lực tạo tính người của tư tưởng khoa học...

    Xem tiếp >>
  • VĂN BẢN VÀ SỰ KIỆN TRONG LỊCH SỬ Y HỌC (C. DAREMBERG, 1870)

    Chính văn bản là yếu tố tạo thành cơ thể của sử học. Thật vậy, làm thế nào chúng ta có thể viết lịch sử của một khoa học với các văn bản không chính xác, khi nghĩa đen của từ cũng chưa được xác định...

    Xem tiếp >>
  • TÍNH MỤC ĐÍCH TRONG SINH HỌC (J. MONOD, 1970 & 1977)

    Quyển Le Hasard et la Nécessité của Jacques Monod được xuất bản năm 1970. Sự sâu sắc, tính mới mẻ của khái niệm, văn phong của tác giả... đã tạo ra nhiều phản ứng trái ngược quyết liệt, khiến ông phải trở lại một số luận điểm căn bản của tác phẩm trong một bài viết tay khoảng 10 trang...

    Xem tiếp >>
  • TÍNH MỤC ĐÍCH TRONG SINH HỌC (F. JACOB, 1974)

    Mặc dù được biểu đạt một cách hiển nhiên trong sự phát triển của phôi, hay trong hành vi của động vật chẳng hạn, tính mục đích này từ lâu vẫn là con vật đáng ghét nhất, nếu không muốn nói là nỗi xấu hổ[2] của nhiều nhà sinh học. Theo tôi, điều này có ít nhất hai lý do...

    Xem tiếp >>
  • SỰ KIỆN VÀ ĐỊNH LUẬT (L. LIARD, 1879)

    Khoa học đích thực đề xuất việc giải thích những hiện tượng bằng các định luật, và các quy luật này là những quan hệ bất biến kết hợp những hiện tượng lại với nhau. Một khi đã xác định như vậy, đặc trưng của khoa học là gì? – Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy xem xét cụ thể và phân tích một nhóm sự kiện với cái định luật giải thích chúng...

    Xem tiếp >>
  • TÍNH KHÁCH QUAN KHOA HỌC (R. BLANCHÉ, 1948)

    Sự phê phán lý tưởng khách quan càng chính đáng bao nhiêu khi được áp dụng vào việc tố cáo những chướng ngại đã cản trở sự hoàn thành mục đích này, thì nó càng trở nên bất công và hơn nữa nguy hiểm, khi từ sự phê phán thích đáng nó biến dạng thành thói dè bĩu...

    Xem tiếp >>
  • CHÂN LÝ TOÁN HỌC, CHÂN LÝ THỰC NGHIỆM (E. GOBLOT, 1922)

    Sự phân biệt giữa nhà sinh lý học với nhà tâm lý học chẳng hạn là không mấy sâu sắc ... Sự phân biệt giữa nhà toán học với nhà khoa học tự nhiên còn sâu sắc hơn nhiều. Đối tượng của các khoa học tự nhiên là những sự kiện và các định luật chi phối chúng...

    Xem tiếp >>
  • DẤU HIỆU NGÔN NGỮ VÀ CHỨC NĂNG BIỂU TRƯNG (H. WALLON, 1942)

    Thuyết liên kết và nguyên tử của ngôn ngữ cuối cùng đã bị từ bỏ, không chỉ bởi vì nó không phù hợp với, vừa các rối loạn ngôn ngữ đã được nghiên cứu tốt nhất, vừa những gì quan sát được trong việc học ngôn ngữ, mà còn bởi vì nó giả định sự tồn tại của hình ảnh như yếu tố của từ...

    Xem tiếp >>
  • BẢN CHẤT TÂM LÝ CỦA DẤU HIỆU NGÔN NGỮ (MAINE DE BIRAN, 1812)

    [...] Chính là thông qua một hành động suy nghĩ đầu tiên mà chủ thể của nỗ lực tự cảm nhận như chủ thể, khác biệt hay tách biệt với cái từ xa lạ đang cưỡng chống nó. Cũng chính là thông qua một hành động suy nghĩ tương tự...

    Xem tiếp >>
  • CHƯƠNG TRÌNH CỦA CHỦ THUYẾT HÀNH VI (A. TILQUIN, 1942)

    Tâm lý học con người, như chủ thuyết hành vi quan niệm, phải được xây dựng dựa trên sự bắt chước tâm lý học động vật, khách quan và thực nghiệm. Nghĩa là nó phải vay mượn từ bộ môn sau cả đối tượng và phương pháp lẫn mục đích của nó, sao cho không còn tình trạng có hai thứ tâm lý học...

    Xem tiếp >>
  • CHỦ THUYẾT HÀNH VI (P. NAVILLE, 1942)

    John [Broadus] Watson* tóm tắt các bước tiến của chủ thuyết hành vi như sau: «Ban đầu, chủ thuyết hành vi chủ yếu dựa trên một quan niệm khá mơ hồ về sự hình thành những thói quen. Công trình của Pavlov và các sinh viên của ông về phản xạ có điều kiện, tuy được các nhà tâm lý học hành vi biết tới, lúc đầu cũng chỉ đóng một vai trò khiêm tốn trong những giải thích của họ...

    Xem tiếp >>
  • PHẢN XẠ CÓ ĐIỀU KIỆN (I. PAVLOV, 1923)

    Theo khuynh hướng cải tiến các khoa học con người bằng loại phương pháp thống trị trong các khoa học vật chất, vào cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX, tâm lý học cũng đã chuyển mình thành khoa học về hành vi, thông qua một số thí nghiệm nổi tiếng. Hai biểu hiện chính của trường phái tâm lý học thực nghiệm này là phản xạ học (reflexology) của Ivan Pavlov (1849-1936)...

    Xem tiếp >>