Sổ tay giáo dục
  • LÝ THUYẾT NHỮNG QUẢ CẦU ĐỒNG TÂM (J. A. COLEMAN, 1967)

    Platōn, triết gia Hy Lạp nổi tiếng, đã có ảnh hưởng rõ rệt tới khoa vũ trụ học vào thời của ông. Ông là học trò vĩ đại nhất của Sōkratēs, và sống từ năm 427 đến năm 347 tCn. Platōn thành lập một trường học ở Athēnai và có một số học viên nổi tiếng, những người không chỉ tiếp thu và chuyển tải những lời dạy của ông mà còn đưa ra nhiều ý tưởng độc đáo riêng của họ trong nhiều lĩnh vực triết học cũng như khoa học...

    Xem tiếp >>
  • LÔ-GIC HỌC VÀ TÂM LÝ HỌC (H. REICHENBACH, 1947)

    Lô-gic học thường được định nghĩa là thứ khoa học liên quan tới các quy luật của tư duy. Đây là một lối đặc trưng hóa mơ hồ, trừ phi chúng ta phân biệt quy luật tư duy của tâm lý học với quy luật tư duy của lô-gic học. Quá trình tư duy hiện thực không phân tích rõ rệt khác biệt này...

    Xem tiếp >>
  • CHẤT PHỐT-PHO: ĐỊNH NGHĨA THAO TÁC (G. MILHAUD, 1898)

    Trích đoạn dưới đây có dáng dấp của một định nghĩa thao tác trong hoá học. Điều lý thú là nó được viết từ năm 1898, trong khi bài báo được xem như tờ khai sinh cho lối định nghĩa này của P. W. Bridgman[2] chỉ được phổ biến vào năm 1927. Một ý niệm khoa học có thể tồn tại khá lâu trong tình trạng ẩn khuất trước khi được xác định dưới nắng sáng...

    Xem tiếp >>
  • DANH PHÁP HÓA HỌC VÀ HÓA HỌC KHOA HỌC (A. DE LAVOISIER, 1789)

    Mục tiêu duy nhất của tôi khi viết tác phẩm này là phát triển hơn nữa bản Báo Cáo mà tôi đã đọc, tại buổi họp công cộng của Viện Hàn Lâm Khoa Học hồi tháng 4 năm 1787, về nhu cầu cải cách và hoàn thiện bộ Danh Pháp Hóa Học...

    Xem tiếp >>
  • KHẢO LUẬN VỀ HÌNH THỨC (S. K. LANGER, 1937)

    Mọi tri thức, mọi khoa học và nghệ thuật đều bắt đầu từ nhận thức rằng những sự vật bình thường, quen thuộc đều có thể mang nhiều hình thức[2] khác nhau. Kinh nghiệm sớm nhất của chúng ta về tự nhiên buộc ta lưu ý liền tới sự kiện này: chúng ta thấy nước đông đặc thành một khối trong mờ, tuyết từ trên trời rơi xuống chuyển thành nước ngay trước mắt...

    Xem tiếp >>
  • VŨ TRỤ HỌC CỦA PYTHAGORAS VÀ MÔN ĐỒ (J. A. COLEMAN, 1967)

    Pythagoras và những người kế nghiệp ông trong trường phái do ông thành lập đã giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của vũ trụ học và các lý thuyết về nguồn gốc vũ trụ. Bản thân Pythagoras sống trong khoảng thời gian từ năm 580 đến 500 tCn. Ông sinh ra ở Samos (vùng Ionia*), nhưng di cư đến Kroton (ở miền nam nước Ý) vào khoảng năm 530 tCn, và dựng lên tại đây một trường phái được gọi theo tên ông, chủ yếu là một giáo phái...

    Xem tiếp >>
  • BA LUẬN THUYẾT VỀ BẢN CHẤT CỦA TOÁN HỌC (M. BLACK, 1933)

    Ba trường phái tư tưởng được lựa chọn vì tầm quan trọng và tầm ảnh hưởng của chúng thường được phân biệt với các tên là Lô-gic Luận (Logistic), Hình Thức Luận (Formalistic), và Trực Giác Luận (Intuitionist), với các nhà diễn giải đương thời nổi tiếng nhất của chúng là Bertrand Russell*, David Hilbert* và Luitzen Brouwer*, kể theo thứ tự. Các học thuyết của họ khác nhau nhiều, về phương pháp tiếp cận vấn đề cũng như trong những kết luận...

    Xem tiếp >>
  • BẢN CHẤT CỦA TOÁN HỌC (J. D. BARROW, 1991)

    Có một lô quan điểm triết học về bản chất tri ​​thức và sự tiếp thu tri ​​thức nói chung, và tri ​​thức toán học nói riêng[2]. Hãy xem xét bốn quan điểm phổ biến nhất. Trước tiên là chủ nghĩa kinh nghiệm, theo đó mọi tri ​​thức của chúng ta đều là những thu nhận từ kinh nghiệm; đối với những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm, không có những chân lý tất yếu...

    Xem tiếp >>
  • LỊCH SỬ KHOA HỌC & XÃ HỘI HỌC KHOA HỌC (P. RYBICKI, 1969)

    Sự phát triển của xã hội học tri thức tiến bộ nhanh chóng sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Những đại diện tiêu biểu của nó là Max Scheler (1874-1928), Karl Mannheim (1893-1947), Florian Znaniecki (1882-1958), Pitirim Sorokin (1889-1968), Robert Merton (1910-2003), Georges Gurvitch (1894-1965)...

    Xem tiếp >>
  • SỰ SỐNG (J. LOCKE, 1689 ; C. BERNARD, 1878)

    Trái với nhóm tác giả nỗ lực định nghĩa «sự sống» như đối tượng của khoa sinh học, cũng có những nhà khoa học và triết gia từ chối xem một định nghĩa chính xác về ý niệm này là không thể làm được hoặc vô ích. Dưới đây là hai trích đoạn biểu đạt khuynh hướng trên...

    Xem tiếp >>
  • VŨ TRỤ HỌC Ở IONIA (J. A. COLEMAN, 1967)

    Nhiều đóng góp của người Hy Lạp cho toán học, khoa học và triết học đã được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 600 tCn tới năm 200 sCn. Suốt thời kỳ này, những triết gia lỗi lạc đã thành lập các học phái riêng biệt, mỗi trường phái phát triển mạnh mẽ vào một thời điểm khác biệt...

    Xem tiếp >>
  • TRỪU TƯỢNG HÓA TRONG KỸ THUẬT (P. VALÉRY, 1921)

    Hành động của con người khi xây dựng hay chế tạo một vật gì đó không quan tâm đến «tất cả» mà chỉ tới một vài phẩm chất của vật thể họ đang biến đổi. Cái là đủ cho mục đích của ta, đấy mới là điều quan trọng đối với chúng ta...

    Xem tiếp >>
  • KHÁI NIỆM HÓA (H. BERGSON, 1896)

    Tự thân những hành động của chúng ta đã bao hàm một cảm giác mơ hồ về tính tổng quát rồi. Nhưng để đi từ cảm giác mơ hồ này đến khái niệm đích thực vẫn còn một chặng đường dài mà các giai đoạn khác nhau đã được Henri Bergson thử phác họa trong trích đoạn dưới đây...

    Xem tiếp >>
  • HÀNH ĐỘNG CON NGƯỜI, NGUỒN LÝ TÍNH DUY NHẤT (M. HORKHEIMER, 1930)

    Trong trích đoạn từ Những Bước Đầu Của Triết Lý Tư Sản Về Lịch Sử dưới đây, Max Horkheimer phản bác song song, vừa quan điểm định mệnh về lịch sử, vừa chủ nghĩa tiến bộ tuyến tính tuyệt đối...

    Xem tiếp >>
  • Ý NGHĨA, BIẾN DỊCH TRONG TRIẾT LÝ LỊCH SỬ (A.-A. COURNOT, 1875)

    Niềm tin đặt vào chủ nghĩa tiến bộ– một sự tiến bộ tuyến tính, nhất thiết, không ngừng, trong mọi lĩnh vực, về một tương lai tiền định có ý nghĩa – là cha đẻ của các triết lý lịch sử...

    Xem tiếp >>
  • TỪ TRIẾT LÝ TỰ NHIÊN HY LẠP ĐẾN THUẬT GIẢ KIM (P. WALDEN, 1950)

    Bận rộn với lao động tự bảo tồn, con người sáng tạo chỉ đánh giá cao những vật thể cảm quan thông qua giá trị thực dụng của chúng; trong mục đích này, hắn đã áp đặt lên vạn vật những biến đổi nhất định mà không quan tâm đến bản chất hoặc xuất xứ của chúng...

    Xem tiếp >>
  • KHOA HỌC BẮT ĐẦU TỪ THẤT BẠI KỸ THUẬT (J. HERSCHEL, 1831)

    Một nhà sản xuất xà phòng nhận thấy rằng cặn từ dung dịch kiềm sẽ ăn mòn nồi đun bằng đồng chứa nó khi hết chất kiềm. Không thể hiểu một sự cố tương tự, ông ta kể sự bối rối của mình với một nhà hóa học...

    Xem tiếp >>
  • TOÁN & THIÊN VĂN HỌC Ở BABYLONIA & AI CẬP (J. A. COLEMAN, 1967)

    Chính trong lĩnh vực đại số mà người Babylonia đã có những đóng góp tốt nhất cho toán học. Ngay từ năm 1800 tCn, họ đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc khám phá ra các phép toán đại số, bao gồm cả cách giải phương trình bậc hai...

    Xem tiếp >>
  • LỊCH SỬ TỰ NHIÊN (BUFFON, 1749)

    Từ «lịch sử» trong cụm từ «Lịch Sử Tự Nhiên» ở các văn bản thuộc thời kỳ này cần được hiểu theo nguyên nghĩa Hy Lạp cổ đại của nó là «ἱστορία = [h]istoria», có nghĩa là một cuộc «điều tra», «tìm hiểu», không mang một quan điểm thời gian, một ngụ ý niên đại nào...

    Xem tiếp >>
  • KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT (L. DE BROGLIE, 1947)

    Khoa học và kỹ thuật là hai thực thể không thể tách rời trong sinh hoạt hiện đại của con người. Và dù có vẻ như kỹ thuật còn là đầu nguồn của khoa học trong đời sống – theo nghĩa rằng, chủ yếu vì muốn cải thiện cuộc sống của mình mà con người bắt đầu tìm hiểu thế giới chung quanh...

    Xem tiếp >>
  • NGUYÊN NHÂN, LÝ DO, NGẪU NHIÊN (A.-A COURNOT, 1875)

    Các triết gia đã bàn luận rộng rãi về ý tưởng nguyên nhân, nhưng hầu hết đều chỉ quan tâm tới ý tưởng lý do của sự vật một cách hời hợt, như thể nhân dịp nên bàn thêm mà thôi, mặc dù chính ý tưởng lý do mới là tổng quát hơn, và thực sự là cái ý tưởng điều tiết mà ta phải lấy làm chuẩn mực cho cả ý tưởng nguyên nhân nữa, nếu muốn xác định phạm vi và quy định giá trị của nó...

    Xem tiếp >>
  • TRIẾT LÝ TƯ BIỆN LỊCH SỬ, TRIẾT LÝ PHÊ PHÁN SỬ HỌC (W. H. DRAY, 1964)

    Một dẫn nhập vào môn triết lý về sử phải bắt đầu bằng sự phân biệt hai loại nghiên cứu hoàn toàn khác nhau, tuy không phải hoàn toàn không liên hệ, và cho đến nay đều mang tên này. Chúng tương ứng với hai nghĩa mà từ lịch sử thường được hiểu. Một mặt, chúng ta dùng nó khi quy chiếu về một dòng hay chuỗi biến cố: một phần hay một lớp nào đó của hiện thực mà sử gia lấy làm đối tượng nghiệp vụ của mình...

    Xem tiếp >>
  • NĂM VẤN ĐỀ TRIẾT LÝ PHÊ PHÁN SỬ HỌC (W. H. DRAY, 1964)

    Trong các chương sau đây, chúng tôi sẽ lần lượt xem xét năm vấn đề lớn từng được bàn cãi nhiều bởi các triết gia phê phán sử học, và ghi lại quan hệ giữa chúng với nhau. Để giải thích phần nào sự lựa chọn các vấn đề này, quy chiếu thêm về triết lý khoa học có thể là hữu ích.

    Xem tiếp >>
  • NGUYÊN NHÂN, LÝ DO, NGẪU NHIÊN TRONG SỬ HỌC (A.-A. COURNOT, 1872)

    Cournot, nhà toán học của thế kỷ XIX, đã đưa ra nhiều ý tưởng độc đáo liên quan đến lịch sử và triết lý sử học. Nhưng do sự tách biệt truyền thống giữa khoa học và triết học, cũng như tính đa dạng trong sinh hoạt tri thức của ông, đóng góp của Cournot chỉ được các sử gia và nhà xã hội học tham gia vào cuộc tranh luận về nền tảng phương pháp của các khoa học xã hội và khoa học ...

    Xem tiếp >>
  • SỰ KIỆN XÃ HỘI HỌC SƠ ĐẲNG (G. TARDE, 1894)

    Gabriel Tarde* và Émile Durkheim* là hai nhà xã hội học đầu đàn trong thời kỳ xây dựng môn học này ở Pháp (cuối thế XIX - đầu thế kỷ XX). Do trường phái duy xã hội luận (sociologism) của Durkheim và môn đồ nắm vai trò thống trị ở các đại học, quan điểm của Tarde đương thời không phát triển nổi trên quê hương của ông...

    Xem tiếp >>
  • CUỘC CÁC MẠNG 1789 VÀ XÃ HỘI HỌC PHÁP (R. NISBET, 1943)

    Ảnh hưởng của cuộc Đại Cách mạng Pháp trên nền móng của bộ môn xã hội học quốc gia là một sự kiện lẽ ra phải được quan tâm nhiều hơn là nó đã nhận được trên thực tế. Bởi vì trong lịch sử của phần lý thuyết xã hội học ở Pháp...

    Xem tiếp >>
  • QUAN HỆ NHÂN QUẢ (R. CARNAP, 1966)

    Cách tiếp cận của nhà lô-gic học Rudolf Carnap nằm trong dòng phê phán quan hệ nhân quả của David Hume. Thực vậy, đối với Hume, không có tương quan thiết yếu giữa cái mà ta gọi là «nhân» với cái mà ta chỉ định là «quả». Từ sự kiện ổ bánh mì tôi ăn ngày hôm qua đã nuôi dưỡng tôi...

    Xem tiếp >>
  • KHOA HỌC TỰ NHIÊN & KHOA HỌC TINH THẦN (W. DILTHEY, 1883 & 1894)

    Ở thế kỷ XIX, trong khi ở Pháp và Anh, mỗi khoa học nhân văn và xã hội đều tìm cách đưa vào lĩnh vực của mình – như Émile Durkheim và Herbert Spencer trong xã hội học – các phương pháp đã giúp loại khoa học tự nhiên đạt được những thành quả lớn lao về tri thức, thì ở Đức hình thành một trào lưu trái ngược...

    Xem tiếp >>
  • QUY NẠP TOÁN HỌC (H. POINCARÉ, 1909)

    Trong trích đoạn dưới đây, Henri Poincaré đã đề cập chính xác tới một lý thuyết về suy luận toán học, theo đó, khi chúng ta nghiên cứu tư tưởng toán học «nơi nó vẫn còn là toán học thuần túy, nghĩa là trong số học», thì chúng ta sẽ thấy, «ở mỗi bước chân», một phương thức nhất quán, và đấy là một phép quy nạp thực sự...

    Xem tiếp >>
  • TOÁN HỌC VÀ TRIẾT HỌC (M. BLACK, 1933)

    Sự thành công của phương pháp khoa học đã khiến giới triết gia mơ tưởng tới một thứ triết lý mang tính khoa học, và có triển vọng một ngày nào đó đạt được mức độ chắc chắn, cũng như những thành tựu chồng chất của khoa học...

    Xem tiếp >>