Sổ tay giáo dục
  • NỘI PHÁT LUẬN & NGOẠI PHÁT LUẬN TRONG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC (P. THUILLIER, 1973)

    Tại sao khoa học «hiện đại» lại ra đời ở châu Âu vào thế kỷ 16 và 17? Câu hỏi hấp dẫn nhưng không dễ trả lời (...)

    Xem tiếp >>
  • ĐỊNH NGHĨA THAO TÁC (C. G. HEMPEL, 1966)

    Một quan niệm rất chuyên biệt về đặc trưng của loại mệnh đề diễn giải* đã được trường phái thao tác luận trong tư duy triển khai và đề xuất, từ các nỗ lực về phương pháp của nhà vật lý học Percy W. Bridgman...

    Xem tiếp >>
  • THÔNG KIẾN & TRI THỨC KHOA HỌC (G. BACHELARD, 1938 & 1953)

    Khoa học phải chăng đã phát triển từ sự nối dài hay mở rộng trực tiếp của thông kiến (common sense, sens commun), của tri thức thông tục? Theo G. Bachelard, về bản chất, tư duy khoa học là «một sự cải đổi tri thức (une rectification du savoir)»: nó tiến triển một cách «biện chứng», bằng sự đạp đổ những sai lầm, và đặc biệt là những sai lầm của thông kiến trước đấy...

    Xem tiếp >>
  • PHÊ PHÁN LIÊN TỤC LUẬN VỀ TIẾN BỘ KHOA HỌC (G. BACHELARD, 1938)

    Một trong những phản đối tự nhiên nhất của những người theo liên tục luận trong văn hoá là gợi lên tính liên tục của lịch sử. Vì ta viết ra một ký sự liên tục về những biến cố, thật dễ dàng tin rằng chúng ta đang sống lại những sự kiện ấy trong sự liên tục của thời gian, nên ta gán cho toàn bộ lịch sử tính thống nhất và liên tục của một quyển sách mà không tự ý thức được...

    Xem tiếp >>
  • TÍNH THẤT THƯỜNG CỦA SỰ TIẾN BỘ (C. LÉVI-STRAUSS, 1952)

    Trong một bài thuyết trình tại Unesco, sau trở thành quyển sách nhỏ quan trọng là Chủng Tộc Và Lịch Sử (Race et Histoire), Claude Lévi-Strauss đả phá và thay thế hình ảnh một sự tiến bộ liên tục bằng một hình ảnh khác và đối lập là quân mã trên bàn cờ vua...

    Xem tiếp >>
  • LÔ-GIC KHÁM PHÁ & LÔ-GIC TÁI TẠO (A. KAPLAN, 1964)

    Mọi sử gia và nhà xã hội học về khoa học đều nhận thấy rằng quan hệ giữa các nhà khoa học với thực tiễn của họ hầu như luôn luôn chịu ảnh hưởng trung gian của những biểu hiện tâm lý, xã hội bắt nguồn từ các triết thuyết rất xa cách với hiện thực của hoạt động khoa học. Thế nhưng sự diễn giải các hoạt động nghiên cứu này, trong cách nó được tái tạo qua tường thuật hoặc mô tả...

    Xem tiếp >>
  • TÂM LÝ HỌC HÀNH XỬ (P. JANET, 1926)

    Mặc dù ủng hộ chủ thuyết hành vi, Pierre Janet không tin rằng chúng ta có thể loại ý thức ra khỏi phạm vi tâm lý học, và đề xuất một quan điểm mang tên là tâm lý học hành xử (psychologie des con như một hình thức mở rộng và cao cấp của tâm lý học hành vi mà theo ông là bắt buộc trong nghiên cứu bệnh học...

    Xem tiếp >>
  • ĐỊNH NGHĨA TRONG KHOA HỌC (C. G. HEMPEL, 1966)

    Để độc giả có thể theo dõi dễ dàng và lý thú hơn bài viết này của tác giả, chúng tôi đã phân đoạn, và thêm vào bản dịch dưới đây các tiểu tựa, và một số chú thích đặt ở cuối bài...

    Xem tiếp >>
  • PHẦN CỦA TRỰC GIÁC TRONG TOÁN HỌC (J. DIEUDONNÉ, 1987)

    Mặc dù là người theo hình thức luận và là nhân vật chính trong nhóm Bourbaki*, Jean Dieudonné không loại trừ một loại trực giác nhất định trong toán học, như được phác hoạ trong trích đoạn dưới đây...

    Xem tiếp >>
  • CHIỀU KÍCH THỜI GIAN CỦA TOÁN HỌC (J. DIEUDONNÉ, 1987)

    Không chỉ Platōn và Aristotelēs mà cả mọi nhà toán học ngày nay đều chủ yếu giữ lại nơi những đối tượng toán học cái tính cách vượt thời gian của chúng: «các định lý của Eukleidēs ngày nay vẫn còn hiệu lực như 2300 năm trước». Như vậy, phải chăng là toán học không có một kích thước thời gian nào...

    Xem tiếp >>
  • TRỰC QUAN TRONG TOÁN HỌC (G. BOULIGAND, 1944)

    Các khía cạnh trực quan của Toán học được liên kết với những ấn tượng khác nhau của các giác quan mà chúng ta có, và với những ký ức về chúng. Điều quan trọng cho sự nảy nở của hoạt động tiền-toán-học là ký ức về những đối tượng, ở đó một tính chất chung có thể được cảm nhận, cho dù tính chất ấy chỉ được thực hiện một cách sơ sài. Hơn nữa, sự không hoàn hảo của các giác quan của ta đôi khi còn tạo ra ảo tưởng rằng tính chất ấy là biểu hiện trung thành của hiện thực...

    Xem tiếp >>
  • LÝ THUYẾT NHỮNG QUẢ CẦU ĐỒNG TÂM (J. A. COLEMAN, 1967)

    Platōn, triết gia Hy Lạp nổi tiếng, đã có ảnh hưởng rõ rệt tới khoa vũ trụ học vào thời của ông. Ông là học trò vĩ đại nhất của Sōkratēs, và sống từ năm 427 đến năm 347 tCn. Platōn thành lập một trường học ở Athēnai và có một số học viên nổi tiếng, những người không chỉ tiếp thu và chuyển tải những lời dạy của ông mà còn đưa ra nhiều ý tưởng độc đáo riêng của họ trong nhiều lĩnh vực triết học cũng như khoa học...

    Xem tiếp >>
  • LÔ-GIC HỌC VÀ TÂM LÝ HỌC (H. REICHENBACH, 1947)

    Lô-gic học thường được định nghĩa là thứ khoa học liên quan tới các quy luật của tư duy. Đây là một lối đặc trưng hóa mơ hồ, trừ phi chúng ta phân biệt quy luật tư duy của tâm lý học với quy luật tư duy của lô-gic học. Quá trình tư duy hiện thực không phân tích rõ rệt khác biệt này...

    Xem tiếp >>
  • CHẤT PHỐT-PHO: ĐỊNH NGHĨA THAO TÁC (G. MILHAUD, 1898)

    Trích đoạn dưới đây có dáng dấp của một định nghĩa thao tác trong hoá học. Điều lý thú là nó được viết từ năm 1898, trong khi bài báo được xem như tờ khai sinh cho lối định nghĩa này của P. W. Bridgman[2] chỉ được phổ biến vào năm 1927. Một ý niệm khoa học có thể tồn tại khá lâu trong tình trạng ẩn khuất trước khi được xác định dưới nắng sáng...

    Xem tiếp >>
  • DANH PHÁP HÓA HỌC VÀ HÓA HỌC KHOA HỌC (A. DE LAVOISIER, 1789)

    Mục tiêu duy nhất của tôi khi viết tác phẩm này là phát triển hơn nữa bản Báo Cáo mà tôi đã đọc, tại buổi họp công cộng của Viện Hàn Lâm Khoa Học hồi tháng 4 năm 1787, về nhu cầu cải cách và hoàn thiện bộ Danh Pháp Hóa Học...

    Xem tiếp >>
  • KHẢO LUẬN VỀ HÌNH THỨC (S. K. LANGER, 1937)

    Mọi tri thức, mọi khoa học và nghệ thuật đều bắt đầu từ nhận thức rằng những sự vật bình thường, quen thuộc đều có thể mang nhiều hình thức[2] khác nhau. Kinh nghiệm sớm nhất của chúng ta về tự nhiên buộc ta lưu ý liền tới sự kiện này: chúng ta thấy nước đông đặc thành một khối trong mờ, tuyết từ trên trời rơi xuống chuyển thành nước ngay trước mắt...

    Xem tiếp >>
  • VŨ TRỤ HỌC CỦA PYTHAGORAS VÀ MÔN ĐỒ (J. A. COLEMAN, 1967)

    Pythagoras và những người kế nghiệp ông trong trường phái do ông thành lập đã giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của vũ trụ học và các lý thuyết về nguồn gốc vũ trụ. Bản thân Pythagoras sống trong khoảng thời gian từ năm 580 đến 500 tCn. Ông sinh ra ở Samos (vùng Ionia*), nhưng di cư đến Kroton (ở miền nam nước Ý) vào khoảng năm 530 tCn, và dựng lên tại đây một trường phái được gọi theo tên ông, chủ yếu là một giáo phái...

    Xem tiếp >>
  • BA LUẬN THUYẾT VỀ BẢN CHẤT CỦA TOÁN HỌC (M. BLACK, 1933)

    Ba trường phái tư tưởng được lựa chọn vì tầm quan trọng và tầm ảnh hưởng của chúng thường được phân biệt với các tên là Lô-gic Luận (Logistic), Hình Thức Luận (Formalistic), và Trực Giác Luận (Intuitionist), với các nhà diễn giải đương thời nổi tiếng nhất của chúng là Bertrand Russell*, David Hilbert* và Luitzen Brouwer*, kể theo thứ tự. Các học thuyết của họ khác nhau nhiều, về phương pháp tiếp cận vấn đề cũng như trong những kết luận...

    Xem tiếp >>
  • BẢN CHẤT CỦA TOÁN HỌC (J. D. BARROW, 1991)

    Có một lô quan điểm triết học về bản chất tri ​​thức và sự tiếp thu tri ​​thức nói chung, và tri ​​thức toán học nói riêng[2]. Hãy xem xét bốn quan điểm phổ biến nhất. Trước tiên là chủ nghĩa kinh nghiệm, theo đó mọi tri ​​thức của chúng ta đều là những thu nhận từ kinh nghiệm; đối với những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm, không có những chân lý tất yếu...

    Xem tiếp >>
  • LỊCH SỬ KHOA HỌC & XÃ HỘI HỌC KHOA HỌC (P. RYBICKI, 1969)

    Sự phát triển của xã hội học tri thức tiến bộ nhanh chóng sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Những đại diện tiêu biểu của nó là Max Scheler (1874-1928), Karl Mannheim (1893-1947), Florian Znaniecki (1882-1958), Pitirim Sorokin (1889-1968), Robert Merton (1910-2003), Georges Gurvitch (1894-1965)...

    Xem tiếp >>
  • SỰ SỐNG (J. LOCKE, 1689 ; C. BERNARD, 1878)

    Trái với nhóm tác giả nỗ lực định nghĩa «sự sống» như đối tượng của khoa sinh học, cũng có những nhà khoa học và triết gia từ chối xem một định nghĩa chính xác về ý niệm này là không thể làm được hoặc vô ích. Dưới đây là hai trích đoạn biểu đạt khuynh hướng trên...

    Xem tiếp >>
  • VŨ TRỤ HỌC Ở IONIA (J. A. COLEMAN, 1967)

    Nhiều đóng góp của người Hy Lạp cho toán học, khoa học và triết học đã được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 600 tCn tới năm 200 sCn. Suốt thời kỳ này, những triết gia lỗi lạc đã thành lập các học phái riêng biệt, mỗi trường phái phát triển mạnh mẽ vào một thời điểm khác biệt...

    Xem tiếp >>
  • TRỪU TƯỢNG HÓA TRONG KỸ THUẬT (P. VALÉRY, 1921)

    Hành động của con người khi xây dựng hay chế tạo một vật gì đó không quan tâm đến «tất cả» mà chỉ tới một vài phẩm chất của vật thể họ đang biến đổi. Cái là đủ cho mục đích của ta, đấy mới là điều quan trọng đối với chúng ta...

    Xem tiếp >>
  • KHÁI NIỆM HÓA (H. BERGSON, 1896)

    Tự thân những hành động của chúng ta đã bao hàm một cảm giác mơ hồ về tính tổng quát rồi. Nhưng để đi từ cảm giác mơ hồ này đến khái niệm đích thực vẫn còn một chặng đường dài mà các giai đoạn khác nhau đã được Henri Bergson thử phác họa trong trích đoạn dưới đây...

    Xem tiếp >>
  • HÀNH ĐỘNG CON NGƯỜI, NGUỒN LÝ TÍNH DUY NHẤT (M. HORKHEIMER, 1930)

    Trong trích đoạn từ Những Bước Đầu Của Triết Lý Tư Sản Về Lịch Sử dưới đây, Max Horkheimer phản bác song song, vừa quan điểm định mệnh về lịch sử, vừa chủ nghĩa tiến bộ tuyến tính tuyệt đối...

    Xem tiếp >>
  • Ý NGHĨA, BIẾN DỊCH TRONG TRIẾT LÝ LỊCH SỬ (A.-A. COURNOT, 1875)

    Niềm tin đặt vào chủ nghĩa tiến bộ– một sự tiến bộ tuyến tính, nhất thiết, không ngừng, trong mọi lĩnh vực, về một tương lai tiền định có ý nghĩa – là cha đẻ của các triết lý lịch sử...

    Xem tiếp >>
  • TỪ TRIẾT LÝ TỰ NHIÊN HY LẠP ĐẾN THUẬT GIẢ KIM (P. WALDEN, 1950)

    Bận rộn với lao động tự bảo tồn, con người sáng tạo chỉ đánh giá cao những vật thể cảm quan thông qua giá trị thực dụng của chúng; trong mục đích này, hắn đã áp đặt lên vạn vật những biến đổi nhất định mà không quan tâm đến bản chất hoặc xuất xứ của chúng...

    Xem tiếp >>
  • KHOA HỌC BẮT ĐẦU TỪ THẤT BẠI KỸ THUẬT (J. HERSCHEL, 1831)

    Một nhà sản xuất xà phòng nhận thấy rằng cặn từ dung dịch kiềm sẽ ăn mòn nồi đun bằng đồng chứa nó khi hết chất kiềm. Không thể hiểu một sự cố tương tự, ông ta kể sự bối rối của mình với một nhà hóa học...

    Xem tiếp >>
  • TOÁN & THIÊN VĂN HỌC Ở BABYLONIA & AI CẬP (J. A. COLEMAN, 1967)

    Chính trong lĩnh vực đại số mà người Babylonia đã có những đóng góp tốt nhất cho toán học. Ngay từ năm 1800 tCn, họ đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc khám phá ra các phép toán đại số, bao gồm cả cách giải phương trình bậc hai...

    Xem tiếp >>
  • LỊCH SỬ TỰ NHIÊN (BUFFON, 1749)

    Từ «lịch sử» trong cụm từ «Lịch Sử Tự Nhiên» ở các văn bản thuộc thời kỳ này cần được hiểu theo nguyên nghĩa Hy Lạp cổ đại của nó là «ἱστορία = [h]istoria», có nghĩa là một cuộc «điều tra», «tìm hiểu», không mang một quan điểm thời gian, một ngụ ý niên đại nào...

    Xem tiếp >>