Sổ tay giáo dục
  • NĂM VẤN ĐỀ SIÊU HÌNH HỌC TRUYỀN THỐNG (A. CRESSON, 1935)

    Vấn đề đầu tiên tới trực tiếp từ sự suy tưởng về các nguyên nhân thực hiệu. Tôi tồn tại, sự tồn tại này đến từ đâu? Có một vũ trụ; nó từ đâu tới? Có hữu thể, nó đến từ đâu? Cuối cùng, vì sao mà có một cái gì đó thay vì không có chi hết? Vì sao mà cái gì đó lại là cái này chứ không phải là cái chi khác? Một vấn đề gây hoảng sợ...

    Xem tiếp >>
  • VỀ MỐI NGUY KINH KHỦNG CỦA NẠN ĐỌC SÁCH (VOLTAIRE, 1765)

    Mặc dù máy in được Johannes Gutenberg [người gọi Ả Rập gọi là Aywan Kutanbark] phát minh từ năm 1440 tại Mainz, nó chỉ được phổ biến trên Đế Chế của Uthman[1] (Osman, Ottoman) từ khoảng 1727. Đây là một sự chậm trễ (khoảng 3 thế kỷ!) đã làm tốn khá nhiều giấy mực, nhưng giới sử gia không đạt được đồng thuận về nguyên nhân của hiện tượng. Có chăng một đạo luật ngăn cấm việc sử dụng và phổ biến máy in, nghề in trên lãnh thổ này?

    Xem tiếp >>
  • MỘT NÒI TRIẾT GIA MỚI (C. C. DUMARSAIS, 1743)

    Trích đoạn dưới đây là từ mục «Triết Gia» trong bộ Bách Khoa Toàn Thư* của Pháp. Nếu đây là một trong những từ mục nổi tiếng nhất của bộ sách, bởi nó đánh dấu bước ngoặt từ quan điểm Cổ đại và Trung đại sang quan niệm của Thế kỷ Ánh Sáng ở Pháp về triết học, tác giả của bài — César Chesneau Dumarsais (1676-1756) — chỉ được biết tới chủ yếu như nhà ngữ pháp học...

    Xem tiếp >>
  • NỘI PHÁT LUẬN & NGOẠI PHÁT LUẬN TRONG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC (J. B. MORRELL, 1981)

    Để giải quyết những vấn đề liên quan đến sự hiểu biết và kiểm soát thế giới tự nhiên, giới sử gia khoa học theo nội phát luận tập trung trên các khía cạnh trí tuệ hiển nhiên của bối cảnh khoa học, nhằm làm nổi bật vai trò của những khung khái niệm...

    Xem tiếp >>
  • LÝ TRÍ VÀ GIẢ THUYẾT TRONG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM (W. WHEWELL, 1858)

    Trong trích đoạn dưới đây, nhà logic học và khoa học người Anh William Whewell đã làm nổi bật vai trò của lý trí trong phương pháp thực nghiệm, và chỉ ra rằng, nói như R. Blanché, «việc sử dụng giả thuyết tự do không phải là ngoại lệ, mà là quy luật trong nghiên cứu khoa học, rằng không một phương pháp nào, một quy trình chặt chẽ về mặt lô-gic nào cho phép ta rút ra các quy luật tự nhiên từ sự quan sát đơn giản những sự kiện»...

    Xem tiếp >>
  • SỰ THIẾT YẾU CỦA GIẢ THUYẾT (C. BERNARD, 1865)

    Có hai thao tác phải xem xét trong một cuộc thí nghiệm. Cái đầu tiên là phải suy tính trước và thực hiện những điều kiện của cuộc thí nghiệm; cái thứ hai là phải ghi nhận kết quả của nó. Ta không thể tiến hành thí nghiệm mà không có một ý tưởng định trước; thiết lập một cuộc thí nghiệm là đặt ra một câu hỏi; và ta không bao giờ quan niệm một câu hỏi mà không có cái ý tưởng tìm câu trả lời...

    Xem tiếp >>
  • CHUYỂN ĐỘNG LỆCH CỦA NGUYÊN TỬ & BẤT ĐỊNH LUẬN CỔ ĐẠI (LUCRETIUS, khg 60 tCn)

    Về vấn đề trên, tôi còn muốn Ngài[1] biết thêm điều này nữa. Bị lôi kéo bởi sức nặng của chúng, những hạt nguyên tử rơi xuống trong chân không, nhưng ta không thể nói từ khoảng nào hoặc từ khi nào, chúng lại đi lệch một chút so với đường thẳng đứng, dù là quá ít đến mức chúng ta có thể nói là chỉ hơi bị chênh[2]...

    Xem tiếp >>
  • NGUYÊN TỬ LUẬN CỔ ĐẠI (LUCRETIUS, khg 60 tCn)

    Bản gốc De Rerum Natura bằng tiếng La-tinh là một thiên trường thi. Khi được chuyển sang ngôn ngữ khác, các dịch phẩm tồn tại dưới cả hai thể, văn vần và văn xuôi. Ở chuyên trang này, để tránh mọi kiểu cách có thể làm tối nghĩa ý tưởng, chúng tôi chỉ sử dụng các bản văn xuôi, của R. E. Latham và J. Goodwin bằng tiếng Anh, và của H. Clouard bằng tiếng Pháp...

    Xem tiếp >>
  • SỰ HÌNH THÀNH CÁC KHÁI NIỆM KHOA HỌC (S. FREUD, 1915)

    Chúng ta thường nghe một yêu cầu được công thức hoá như sau: mỗi khoa học phải được xây dựng trên các khái niệm cơ bản rõ ràng và được xác định rõ rệt. Trong thực tế, không có khoa học nào, kể cả cái chính xác nhất, bắt đầu bằng những định nghĩa như vậy cả. Thay vào đó, khởi điểm thực sự của mọi hoạt động khoa học là sự mô tả những hiện tượng...

    Xem tiếp >>
  • HÌNH ẢNH ĐỜI THƯỜNG VÀ KHÁI NIỆM LÝ THUYẾT (G. BACHELARD, 1938)

    Cuối cùng, để kết thúc bản phác thảo trong cuộc luận chiến ngoại vi chống lại những người ủng hộ tính liên tục[1] của văn hóa khoa học này, chúng tôi sẽ chỉ ra rằng ngôn ngữ cũng có thể là dối trá...

    Xem tiếp >>
  • THUYẾT NHẬT TÂM & TRÁI ĐẤT TỰ QUAY CỔ ĐẠI (J. A. COLEMAN, 1967)

    Như chúng ta đã thấy, lý thuyết các quả cầu đồng tâm có thể giải thích, dù chỉ một cách đại khái, những vòng quay đặc biệt trên các quỹ đạo của hành tinh, và nếu đây là tiêu chí duy nhất cho sự thành công, thì nó đã đạt thành quả khá cao...

    Xem tiếp >>
  • NỘI PHÁT LUẬN & NGOẠI PHÁT LUẬN TRONG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC (P. THUILLIER, 1973)

    Tại sao khoa học «hiện đại» lại ra đời ở châu Âu vào thế kỷ 16 và 17? Câu hỏi hấp dẫn nhưng không dễ trả lời (...)

    Xem tiếp >>
  • ĐỊNH NGHĨA THAO TÁC (C. G. HEMPEL, 1966)

    Một quan niệm rất chuyên biệt về đặc trưng của loại mệnh đề diễn giải* đã được trường phái thao tác luận trong tư duy triển khai và đề xuất, từ các nỗ lực về phương pháp của nhà vật lý học Percy W. Bridgman...

    Xem tiếp >>
  • THÔNG KIẾN & TRI THỨC KHOA HỌC (G. BACHELARD, 1938 & 1953)

    Khoa học phải chăng đã phát triển từ sự nối dài hay mở rộng trực tiếp của thông kiến (common sense, sens commun), của tri thức thông tục? Theo G. Bachelard, về bản chất, tư duy khoa học là «một sự cải đổi tri thức (une rectification du savoir)»: nó tiến triển một cách «biện chứng», bằng sự đạp đổ những sai lầm, và đặc biệt là những sai lầm của thông kiến trước đấy...

    Xem tiếp >>
  • PHÊ PHÁN LIÊN TỤC LUẬN VỀ TIẾN BỘ KHOA HỌC (G. BACHELARD, 1938)

    Một trong những phản đối tự nhiên nhất của những người theo liên tục luận trong văn hoá là gợi lên tính liên tục của lịch sử. Vì ta viết ra một ký sự liên tục về những biến cố, thật dễ dàng tin rằng chúng ta đang sống lại những sự kiện ấy trong sự liên tục của thời gian, nên ta gán cho toàn bộ lịch sử tính thống nhất và liên tục của một quyển sách mà không tự ý thức được...

    Xem tiếp >>
  • TÍNH THẤT THƯỜNG CỦA SỰ TIẾN BỘ (C. LÉVI-STRAUSS, 1952)

    Trong một bài thuyết trình tại Unesco, sau trở thành quyển sách nhỏ quan trọng là Chủng Tộc Và Lịch Sử (Race et Histoire), Claude Lévi-Strauss đả phá và thay thế hình ảnh một sự tiến bộ liên tục bằng một hình ảnh khác và đối lập là quân mã trên bàn cờ vua...

    Xem tiếp >>
  • LÔ-GIC KHÁM PHÁ & LÔ-GIC TÁI TẠO (A. KAPLAN, 1964)

    Mọi sử gia và nhà xã hội học về khoa học đều nhận thấy rằng quan hệ giữa các nhà khoa học với thực tiễn của họ hầu như luôn luôn chịu ảnh hưởng trung gian của những biểu hiện tâm lý, xã hội bắt nguồn từ các triết thuyết rất xa cách với hiện thực của hoạt động khoa học. Thế nhưng sự diễn giải các hoạt động nghiên cứu này, trong cách nó được tái tạo qua tường thuật hoặc mô tả...

    Xem tiếp >>
  • TÂM LÝ HỌC HÀNH XỬ (P. JANET, 1926)

    Mặc dù ủng hộ chủ thuyết hành vi, Pierre Janet không tin rằng chúng ta có thể loại ý thức ra khỏi phạm vi tâm lý học, và đề xuất một quan điểm mang tên là tâm lý học hành xử (psychologie des con như một hình thức mở rộng và cao cấp của tâm lý học hành vi mà theo ông là bắt buộc trong nghiên cứu bệnh học...

    Xem tiếp >>
  • ĐỊNH NGHĨA TRONG KHOA HỌC (C. G. HEMPEL, 1966)

    Để độc giả có thể theo dõi dễ dàng và lý thú hơn bài viết này của tác giả, chúng tôi đã phân đoạn, và thêm vào bản dịch dưới đây các tiểu tựa, và một số chú thích đặt ở cuối bài...

    Xem tiếp >>
  • PHẦN CỦA TRỰC GIÁC TRONG TOÁN HỌC (J. DIEUDONNÉ, 1987)

    Mặc dù là người theo hình thức luận và là nhân vật chính trong nhóm Bourbaki*, Jean Dieudonné không loại trừ một loại trực giác nhất định trong toán học, như được phác hoạ trong trích đoạn dưới đây...

    Xem tiếp >>
  • CHIỀU KÍCH THỜI GIAN CỦA TOÁN HỌC (J. DIEUDONNÉ, 1987)

    Không chỉ Platōn và Aristotelēs mà cả mọi nhà toán học ngày nay đều chủ yếu giữ lại nơi những đối tượng toán học cái tính cách vượt thời gian của chúng: «các định lý của Eukleidēs ngày nay vẫn còn hiệu lực như 2300 năm trước». Như vậy, phải chăng là toán học không có một kích thước thời gian nào...

    Xem tiếp >>
  • TRỰC QUAN TRONG TOÁN HỌC (G. BOULIGAND, 1944)

    Các khía cạnh trực quan của Toán học được liên kết với những ấn tượng khác nhau của các giác quan mà chúng ta có, và với những ký ức về chúng. Điều quan trọng cho sự nảy nở của hoạt động tiền-toán-học là ký ức về những đối tượng, ở đó một tính chất chung có thể được cảm nhận, cho dù tính chất ấy chỉ được thực hiện một cách sơ sài. Hơn nữa, sự không hoàn hảo của các giác quan của ta đôi khi còn tạo ra ảo tưởng rằng tính chất ấy là biểu hiện trung thành của hiện thực...

    Xem tiếp >>
  • LÝ THUYẾT NHỮNG QUẢ CẦU ĐỒNG TÂM (J. A. COLEMAN, 1967)

    Platōn, triết gia Hy Lạp nổi tiếng, đã có ảnh hưởng rõ rệt tới khoa vũ trụ học vào thời của ông. Ông là học trò vĩ đại nhất của Sōkratēs, và sống từ năm 427 đến năm 347 tCn. Platōn thành lập một trường học ở Athēnai và có một số học viên nổi tiếng, những người không chỉ tiếp thu và chuyển tải những lời dạy của ông mà còn đưa ra nhiều ý tưởng độc đáo riêng của họ trong nhiều lĩnh vực triết học cũng như khoa học...

    Xem tiếp >>
  • LÔ-GIC HỌC VÀ TÂM LÝ HỌC (H. REICHENBACH, 1947)

    Lô-gic học thường được định nghĩa là thứ khoa học liên quan tới các quy luật của tư duy. Đây là một lối đặc trưng hóa mơ hồ, trừ phi chúng ta phân biệt quy luật tư duy của tâm lý học với quy luật tư duy của lô-gic học. Quá trình tư duy hiện thực không phân tích rõ rệt khác biệt này...

    Xem tiếp >>
  • CHẤT PHỐT-PHO: ĐỊNH NGHĨA THAO TÁC (G. MILHAUD, 1898)

    Trích đoạn dưới đây có dáng dấp của một định nghĩa thao tác trong hoá học. Điều lý thú là nó được viết từ năm 1898, trong khi bài báo được xem như tờ khai sinh cho lối định nghĩa này của P. W. Bridgman[2] chỉ được phổ biến vào năm 1927. Một ý niệm khoa học có thể tồn tại khá lâu trong tình trạng ẩn khuất trước khi được xác định dưới nắng sáng...

    Xem tiếp >>
  • DANH PHÁP HÓA HỌC VÀ HÓA HỌC KHOA HỌC (A. DE LAVOISIER, 1789)

    Mục tiêu duy nhất của tôi khi viết tác phẩm này là phát triển hơn nữa bản Báo Cáo mà tôi đã đọc, tại buổi họp công cộng của Viện Hàn Lâm Khoa Học hồi tháng 4 năm 1787, về nhu cầu cải cách và hoàn thiện bộ Danh Pháp Hóa Học...

    Xem tiếp >>
  • KHẢO LUẬN VỀ HÌNH THỨC (S. K. LANGER, 1937)

    Mọi tri thức, mọi khoa học và nghệ thuật đều bắt đầu từ nhận thức rằng những sự vật bình thường, quen thuộc đều có thể mang nhiều hình thức[2] khác nhau. Kinh nghiệm sớm nhất của chúng ta về tự nhiên buộc ta lưu ý liền tới sự kiện này: chúng ta thấy nước đông đặc thành một khối trong mờ, tuyết từ trên trời rơi xuống chuyển thành nước ngay trước mắt...

    Xem tiếp >>
  • VŨ TRỤ HỌC CỦA PYTHAGORAS VÀ MÔN ĐỒ (J. A. COLEMAN, 1967)

    Pythagoras và những người kế nghiệp ông trong trường phái do ông thành lập đã giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của vũ trụ học và các lý thuyết về nguồn gốc vũ trụ. Bản thân Pythagoras sống trong khoảng thời gian từ năm 580 đến 500 tCn. Ông sinh ra ở Samos (vùng Ionia*), nhưng di cư đến Kroton (ở miền nam nước Ý) vào khoảng năm 530 tCn, và dựng lên tại đây một trường phái được gọi theo tên ông, chủ yếu là một giáo phái...

    Xem tiếp >>
  • BA LUẬN THUYẾT VỀ BẢN CHẤT CỦA TOÁN HỌC (M. BLACK, 1933)

    Ba trường phái tư tưởng được lựa chọn vì tầm quan trọng và tầm ảnh hưởng của chúng thường được phân biệt với các tên là Lô-gic Luận (Logistic), Hình Thức Luận (Formalistic), và Trực Giác Luận (Intuitionist), với các nhà diễn giải đương thời nổi tiếng nhất của chúng là Bertrand Russell*, David Hilbert* và Luitzen Brouwer*, kể theo thứ tự. Các học thuyết của họ khác nhau nhiều, về phương pháp tiếp cận vấn đề cũng như trong những kết luận...

    Xem tiếp >>
  • BẢN CHẤT CỦA TOÁN HỌC (J. D. BARROW, 1991)

    Có một lô quan điểm triết học về bản chất tri ​​thức và sự tiếp thu tri ​​thức nói chung, và tri ​​thức toán học nói riêng[2]. Hãy xem xét bốn quan điểm phổ biến nhất. Trước tiên là chủ nghĩa kinh nghiệm, theo đó mọi tri ​​thức của chúng ta đều là những thu nhận từ kinh nghiệm; đối với những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm, không có những chân lý tất yếu...

    Xem tiếp >>