ĐỊNH NGHĨA BẢN CHẤT (PLATŌN, khg 399-390 tCn)

LM : 15-12-2025

C1

Từ khoá : Định nghĩa – Bản chất – Sùng tín – Platōn, Trích đoạn

 

ĐỊNH NGHĨA BẢN CHẤT :

(VỀ SÙNG TÍN, khg 399-390 tCn)

 

Tác giả : Platōn
Bản tiếng Anh : Benjamin Jowett
Bản tiếng Pháp : Victor Cousin
Người dịch : Nguyễn Văn Khoa

 

*

Sảnh Vua (Stoa Basileios), nơi nhận và trao các đơn từ kiện tụng, công tố

Trên đường đến Sảnh Vua để nhận trát hầu Toà vì bị Anytos, Melētos và Lykōn truy tố về tội không tin tưởng vào các thần linh của thành quốc, mưu toan du nhập các thần ngoại lai, và làm hư hỏng giới thanh thiếu niên Sōkratēs gặp Euthyphrōn kẻ được cho là một chuyên gia về các vấn đề tôn giáo cũng đến Sảnh Vua, nhưng để truy tố chính bố đẻ của y về tội làm chết người. Không hiểu nổi tội danh của mình, Sōkratēs nhờ Euthyphrōn giải thích sùng tín là gì.

To osion được dịch là sainteté trong bản tiếng Pháp của Victor Cousin, các bản tiếng Pháp sau này đều dịch là piété, như piety trong bản của tiếng Anh của Benjamin Jowett. Ở đây, chúng tôi dịch nhất quán to osionto anosion (impiety, impiété) bằng hai cặp danh từ, tính từ liên quan là sùng tín, sùng kính (pious, pieux), và báng bổ, bất kính (impious, impie). Dù sao, vấn đề tôn giáo chỉ được đưa ra trong trích đoạn này để minh hoạ lối định nghĩa bản chất, tiền thân của loại định nghĩa phổ quát, Sōkratēs đòi hỏi. Những nỗ lực thất bại của người đối thoại, ở đây và trong các tác phẩm khác, là: một mặt, bằng chứng rằng người đương thời chỉ tưởng là họ biết điều họ không thực sự biết bởi biết thực sự là biết tới bản chất của đối tượng; mặt khác, là lời mời gọi chúng ta ngày nay cùng suy ngẫm, cả về những giá trị nền tảng của Athēnai xa xưa – hiểu biết, công chính, can đảm, tiết chế – lẫn những ý tưởng đầu lưỡi tương đương ngày nay. Hãy thử làm Sōkratēs mà cật vấn người chung quanh: lý tưởng, chính nghĩa, pháp luật, danh dự, liêm chính là gì?, thế nào là sự thật, đạo đức, cuồng tín, vô tư (không thiên vị), tôn trọng, tự trọng, thuỷ chung, trung kiên?, v. v...  

*

1 - Định nghĩa thứ nhất

SŌKRATĒS : Vậy, thế nào là sùng kính, thế nào là bất kính theo ông?

EUTHYPHRŌN : Tôi xem là sùng tín điều tôi làm ngày hôm nay chẳng hạn: truy tố trước công lý kẻ phạm tội giết người, xúc phạm đến những vật linh thiêng hay loại tội tương đương [5e], dù đấy là cha mẹ, anh em hay ai khác[1]; bằng như không làm như vậy, tôi cho là báng bổ. Chịu khó nghe kỹ nhé, tôi sẽ trưng ra cho ông bằng chứng không thể phản bác rằng định nghĩa của tôi là đúng, là công chính, y hệt như tôi đã từng nói với bao người khác: đừng bao giờ nể nang kẻ xúc phạm đến thần thánh, bất kỳ là ai. Quốc giáo chẳng dạy ta rằng Zeus là vị thần cao quý nhất và công chính nhất trong số các thiên thần, và không đồng thời dạy ta rằng Người đã xích bố đẻ của mình lại [6a], bởi vì ông đã ăn thịt con mà không có lý do chính đáng, rằng Kronos* cũng đã thiến bố ruột vì một lý do tương tự hay sao[2]? Vậy mà khi tôi truy tố một hành động bất công ghê gớm, người ta lại nhảy dựng lên phản đối, tự đặt mình vào thế mâu thuẫn hiển nhiên! Sao lại phán xét hành vi của các thiên thần này và của tôi một cách hoàn toàn khác biệt như vậy[3]?

SŌKRATĒS : Đấy! Cái lý do khiến tôi nay bị lôi ra trước công lý cũng chính là loại chuyện này đây. Bởi vì, khi người ta kể tôi nghe những chuyện tương tự về thần thánh, tôi không chấp nhận nổi, và lời buộc tội tôi hình như cũng dựa trên sự thiếu tin tưởng đó. Bây giờ, nếu ông là người thông thạo chuyện linh thiêng mà cũng đồng ý với đại chúng và tin vào loại chuyện ấy [6b], thì kẻ thực thà tự thú nhận chẳng hiểu gì về những vấn đề quá cao siêu trên như bọn tôi nhất định cũng phải tin theo mà thôi. Vậy, nhân danh thần bằng hữu[4], xin ông nói rõ, ông có tin rằng những chuyện ông vừa kể tôi nghe đã thực sự xảy ra hay không?

EUTHYPHRŌN : Còn bao chuyện đáng kinh ngạc hơn nữa kia. Kẻ phàm phu tục tử không thể nào ngờ tới đâu Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS : Ông nói đứng đắn đấy chứ? Ông tin rằng thần thánh cũng luôn luôn cãi vã, đấu đá với nhau, thù hận nhau và còn làm đủ thứ trò khác nữa, như vẫn được biểu hiện trong thơ và tranh của các thi sĩ, họa sĩ[5] [6c], được phơi bày la liệt khắp các đền miếu ta, và thêu sặc sỡ trên tấm vải huyền bí mà đám rước công kênh lên đến tận Thượng Thành trong các buổi lễ hội mừng thần Athēna[6] thực ư? Euthyphrōn ơi, chúng ta phải chấp nhận tất cả những chuyện đó là thật sao?

EUTHYPHRŌN : Ồ, có phải chỉ có những chuyện ấy thôi đâu, Sōkratēs. Còn bao chuyện khác nữa kia, như tôi đã nói với ông ban nãy. Nếu ông muốn, tôi sẵn sàng kể ông nghe, chắc chắn là chúng sẽ làm ông sửng sốt.

SŌKRATĒS : Tôi tin chứ; nhưng ông sẽ kể tôi nghe lúc nào rảnh rỗi hơn. [6d] Bây giờ, chỉ xin ông cố giải thích cho tôi rõ ràng hơn nữa điều tôi hỏi ban nãy, bởi vì ông đã trả lời thỏa đáng câu hỏi của tôi đâu. Ông chưa dạy tôi sùng tín là gì, ông chỉ mới nói rằng kết tội bố ruột ông giết người, như ông đã làm, là điều sùng kính[7].

EUTHYPHRŌN : Sự thật là như thế, Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS : Có thể lắm. Nhưng há không còn nhiều chuyện khác mà ông cũng gọi là sùng kính nữa sao?[8] 

EUTHYPHRŌN : Còn chứ.

SŌKRATĒS : Xin ông nhớ lại đi. Điều tôi hỏi ông không phải là chỉ bảo tôi một hai hành động sùng kính trong vô số chuyện sùng kính khác. Tôi yêu cầu ông trình bày cho tôi tự thân ý niệm sùng tín kia. [6e] Bởi vì chính ông nói với tôi rằng chỉ có một đặc tính, và chỉ có cùng một đặc tính ấy mà thôi, khiến cho điều sùng kính là sùng kính, cũng như chỉ có một đặc tính duy nhất khiến cho điều bất kính luôn luôn là bất kính[9]. Ông còn nhớ đấy chứ?

EUTHYPHRŌN : Có, tôi vẫn nhớ.

SŌKRATĒS : Vậy thì ông hãy dạy tôi đi. Cái đặc tính đó, cái ý niệm đó là gì? Để tôi luôn luôn có nó trước mắt mà sử dụng như khuôn mẫu[10]. Để khi nhìn thấy hành động của ông hay bất cứ ai khác, tôi biết chắc rằng cái nào giống nó là sùng kính, cái nào khác nó là bất kính.

EUTHYPHRŌN : Sōkratēs ơi, nếu đấy là điều ông muốn, tôi sẵn sàng thỏa mãn yêu cầu của ông.

SŌKRATĒS : Vâng, đấy là điều tôi trông đợi.

2 - Định nghĩa thứ hai

EUTHYPHRŌN : Thì đây! Sùng tín là điều gì làm cho chư thần hài lòng và tán thành, báng bổ là điều gì làm cho các vị bất mãn và chê trách[11]

SŌKRATĒS : [7a] Tốt lắm, Euthyphrōn. Giờ ông đã trả lời đích xác thắc mắc như tôi hỏi[12]. Dù chưa biết điều ông nói là đúng hoặc sai, tôi tin chắc rằng ông sẽ thuyết phục được tôi về chân lý của định nghĩa mà ông vừa đưa ra[13].

EUTHYPHRŌN : Bảo đảm.

SŌKRATĒS : Nào, thử xem xét điều chúng ta vừa nói.  Vật hay việc nào, người nào làm chư thần hài lòng là vật hay việc, là người sùng kính. Vật hay việc nào, người nào làm các vị bất mãn là bất kính. Như vậy nghĩa là sùng tín trái ngược[14] trực tiếp với báng bổ, phải không?

EUTHYPHRŌN : Nhất định rồi.

SŌKRATĒS : Và nói thế, theo ông, là nói đúng?

EUTHYPHRŌN : [7b] Vâng. Không phải chúng ta đều nói thế sao?

SŌKRATĒS : Nhưng mà chúng ta cũng đều nói rằng giữa các thiên thần thường có tị hiềm và thù hận, rằng giữa các vị cũng thường có bất hòa và tranh chấp, phải không?

EUTHYPHRŌN : Đúng. Xin giữ nguyên lời đã nói ra.

SŌKRATĒS : Bây giờ, thử xét xem sự khác biệt nhận thức nào đã tạo nên những tị hiềm và thù hận giữa các vị với nhau. Giả sử chúng ta tranh cãi về hai con số[15] xem số nào lớn hơn, và vì thế mà trở thành địch thủ sẵn sàng đấm đá nhau, nếu chúng ta cùng bắt đầu đếm, thì có phải là ta sẽ mau chóng đồng ý với nhau không? 

EUTHYPHRŌN : [7c] Chắc chắn.

SŌKRATĒS : Giả sử chúng ta không đồng ý về kích thước15 của đồ vật, há chúng ta không mang chúng ra đo đạc, và chấm dứt ngay cuộc cãi cọ bằng biện pháp này hay sao? 

EUTHYPHRŌN : Hết ngay.

SŌKRATĒS : Và nếu chúng ta tranh cãi về trọng lượng15, sự bất đồng đó sẽ được giải quyết mau chóng nhờ bàn cân, phải không?

EUTHYPHRŌN : Rất dễ dàng.

SŌKRATĒS : Euthyphrōn ơi, như vậy thì chuyện gì có thể biến chúng ta thành kình địch không thể hòa giải, khi chúng ta tranh luận mà không có thể lệ hay thủ tục định sẵn để giải quyết? Có thể là hiện ông không nghĩ tới một vấn đề nào như thế trong đầu cả; tôi thử đề nghị với ông một vài chủ đề nhé. [7d] Xem nào, có phải ngẫu nhiên mà đấy là công chính và bất công, lương thiện và bất lương, phải và trái chăng?[16] Có phải đấy là loại vấn đề mà vì không có sẵn quy tắc thích hợp để thỏa thuận khi bất đồng ý kiến, chúng ta dễ lao vào những hiềm khích đáng trách không? Và khi nói chúng ta, tôi nói tất cả mọi người chứ không riêng gì ông với tôi đâu.   

EUTHYPHRŌN : Đúng. Quả thật đấy là căn nguyên của mọi tranh cãi giữa người đời chúng ta.

SŌKRATĒS : Và nếu quả thật là cả thần thánh cũng không hòa thuận về một số chuyện, thì mối bất hòa đó cũng phải bắt nguồn từ loại ý kiến khác nhau về một trong những vấn đề trên, phải không?

EUTHYPHRŌN : Nhất định phải từ đấy mà thôi.

SŌKRATĒS : [7e] Euthyphrōn thông thái ơi, như vậy thì, theo ông, cả thần thánh cũng không nhất trí trên các vấn đề công chính và bất công, lương thiện và bất lương, phải và trái[17]. Bởi vì các vị đâu thể có một đề tài tranh cãi nào khác, phải không?

EUTHYPHRŌN : Ông nói rất đúng.

SŌKRATĒS : Và những điều mà một vị nào thấy là lương thiện, đúng, tốt, và công chính, thì ngài yêu thích, đồng thời ngài cũng ghét bỏ những điều trái ngược như bất lương, sai, xấu, và bất công, phải không?

EUTHYPHRŌN : Phải.

SŌKRATĒS : Như vậy, theo ông, cùng một sự việc có thể vừa là công chính với các thần này, vừa là bất công đối với các thần khác, [8a] và đấy là nguồn gốc của mọi bất hòa và tranh chiến giữa chư thần với nhau, có phải thế không?

EUTHYPHRŌN : Đúng thế.

SŌKRATĒS : Kết cục là cùng một sự việc có thể được các thiên thần vừa yêu vừa ghét, bởi vì nó làm các vị vừa hài lòng, vừa bất mãn.

EUTHYPHRŌN : Có vẻ như thế thật.

SŌKRATĒS : Như vậy, theo lý luận này, điều sùng kính với điều bất kính chỉ là một.

EUTHYPHRŌN : Có thể như thế lắm.

SŌKRATĒS : Nhưng nếu quả vậy thì Euthyphrōn đáng phục ơi, ông chưa giải đáp thắc mắc của tôi, bởi vì tôi đâu có hỏi ông điều gì vừa là sùng kính vừa là bất kính, trong khi ở câu trả lời của ông, có vẻ như là điều làm cho thần thánh hài lòng cũng có thể đồng thời làm các vị ấy bất mãn; [8b] thành thử,  khi ông truy tố bố ruột để trừng phạt ông ta chẳng hạn, thì ông làm vừa lòng Zeus thật đấy, song lại làm cho Kronos* và Ouranos* bất bình, Hēphaistos* có thể tán thành nó được đấy, còn Hēra* thì chê bai[18], và cứ như thế đối với bất kỳ vị thần nào khác, nếu các vị ấy không chia sẻ cùng một cảm nhận về hành động của ông.  

EUTHYPHRŌN : Nhưng mà Sōkratēs ơi, tôi nghĩ rằng không có bất đồng giữa các thiên thần về điểm này đâu, vì sẽ chẳng có vị nào lại chủ trương rằng ta phải để yên, không trừng phạt kẻ đã phạm tội giết người một cách bất chính hết cả[19].

SŌKRATĒS : Ủa, có người chủ trương như thế thật sao? Ông đã bao giờ thấy ai dám phản đối việc trừng trị kẻ giết người một cách không chính đáng, hay vi phạm bất cứ một hành động bất chính nào khác ở đâu chưa?

EUTHYPHRŌN : Người ta không nghe, không thấy trong mọi tòa án bao nhiêu kẻ nói và làm đủ chuyện có thể làm được để chạy tội, sau khi đã vi phạm hàng ngàn điều bất chính đó hay sao? Ở đâu cũng chỉ thấy toàn những chuyện trái với điều ông vừa nói.

SŌKRATĒS : Nhưng mà Euthyphrōn ơi, [8c] những người đó có thú nhận rằng mình đã làm chuyện bất chính hay không cơ chứ, hoặc giả họ vừa thú nhận đã làm điều bất chính, vừa cãi lý rằng mình phải được tha bổng?

EUTHYPHRŌN : Không. Quả thật là họ không đòi được tha khi đã nhận tội.

SŌKRATĒS : Như vậy, đâu phải là họ nói và làm tất cả những gì có thể làm được để chạy tội, bởi vì họ không hề dám quả quyết hay cãi lý rằng họ phải được tha bổng khi hành động bất chính của họ bị phát hiện; [8d] họ chỉ chối là họ không hề vi phạm một điều bất chính nào, đúng không?   

EUTHYPHRŌN : Công nhận.

SŌKRATĒS : Như thế, chẳng có ai phủ nhận là kẻ phạm tội phải bị trừng phạt hết cả. Đề tài tranh cãi duy nhất là xét xem người nào đã làm điều bất chính gì, làm như thế nào, và trong hoàn cảnh nào[20].

EUTHYPHRŌN : Đúng thế.

SŌKRATĒS : Trên thiên đình cũng giống như ở hạ giới thôi, nếu quả như ông nói, chư thần cũng bất đồng ý kiến về công chính và bất công, phải không? Mỗi vị không bảo vệ ý kiến của mình, vị này chẳng cho rằng vị kia là không công chính, còn các vị kia lại chẳng quả quyết điều ngược lại hay sao? [8e] Bởi vì cả thần thánh lẫn con người, chẳng ai dám chủ trương rằng kẻ đã làm điều bất chính lại không phải đền tội.

EUTHYPHRŌN : Đúng. Ít nhất nói một cách tổng quát.

SŌKRATĒS : Phải nói là cả trong trường hợp đặc thù nữa chứ. Bởi vì khi ta tranh luận là tranh luận trên những vấn đề riêng biệt, dù là thần hay người cũng thế thôi. Nếu chư thần tranh cãi về một chuyện chi đó, thì nó chỉ có thể là một chuyện đặc thù, vị này nói là nó công chính, trong khi vị kia cãi rằng nó bất công, phải không?

EUTHYPHRŌN : Nhất định rồi.

SŌKRATĒS : [9a] Nào Euthyphrōn thân mến, như vậy, để học hỏi cho riêng tôi thôi, xin ông trưng cho tôi bằng cớ chắc chắn là tất cả thần thánh đều cho rằng cái chết của anh tá điền nhà ông là bất công. Đây là kẻ đã hung bạo đánh chết người làm, bị ông chủ của nạn nhân xích lại, rồi sau đó chính y cũng bỏ mạng nốt trước khi bố ông có thể nhận được câu trả lời chờ đợi từ Athēnai:  trong chuyện này, hãy chỉ cho tôi thấy rằng cậu con đã truy tố cha mình về tội làm chết một kẻ như thế, và lôi bố ruột ra tòa đòi trừng trị, là một hành động vừa sùng kính, vừa công chính đi. [9b] Hãy cố chứng minh cho tôi thấy một cách rõ ràng, trong sáng, rằng tất cả chư thần đều tán thành hành động của cậu con này đi. Nếu ông làm được, tôi sẽ ca ngợi sự thông thái của ông suốt đời không ngớt. 

EUTHYPHRŌN : Có lẽ đấy không phải là việc dễ đâu Sōkratēs ạ; nhưng không phải vì tôi không đủ năng lực chứng minh thật rõ ràng cho ông.

SŌKRATĒS : Tôi hiểu. Ông tin là đầu tôi rắn hơn đầu[21] các vị thẩm phán chứ gì. Bởi vì, với họ, thì ông thừa sức chứng minh rằng anh tá điền nhà ông đã chết một cách oan ức, và tất cả thần thánh đều không tán thành hành động của bố ông, phải không?

EUTHYPHRŌN : Vâng, chỉ cần họ chịu khó nghe.

SŌKRATĒS : [9c] Ồ! Họ nghe chứ, ông chỉ cần phát biểu sao cho thật hay. Nhưng tôi chợt có ý nghĩ này khi nghe ông nói; tôi tự nhủ: sau khi Euthyphrōn đã chứng minh rằng tất cả thiên thần đều cho rằng cái chết của anh tá điền kia là bất công, liệu ông ta đã dạy tôi hiểu gì hơn thế nào là sùng tín, thế nào là báng bổ chưa?[22] Cho rằng cái chết của anh tá điền đã làm thần thánh bất mãn như ông khẳng định ư? Tôi chấp nhận được; nhưng đấy không phải là định nghĩa về sùng tín và báng bổ, bởi vì thần thánh không nhất trí, điều làm vị này hài lòng lại làm phật lòng vị kia. [9d] Cho rằng tất cả thiên thần đều thấy hành động của bố ông là bất chính và đều ghê tởm nó ư? Được, tôi chấp nhận; nhưng lúc đó, phải sửa đổi chút đỉnh định nghĩa của ta, và xin ông nói lại rằng: điều gì làm tất cả thiên thần đều hài lòng là sùng kính, điều gì làm tất cả các vị đều bất mãn là bất kính, và điều gì làm một số vị hài lòng còn một số khác phật lòng là, hoặc không sùng kính mà cũng chẳng bất kính, hoặc vừa sùng kính vừa bất kính một lúc. Ông có muốn ta giữ lại định nghĩa này về sùng tín và báng bổ chăng? 

EUTHYPHRŌN : Tại sao không? Có ai ngăn ông đâu, Sōkratēs?

SŌKRATĒS : Tại sao không chứ? Tôi sẽ không tự ngăn cản mình, tất nhiên. Nhưng ông nên xem lại coi nó có thích hợp với ông chăng, và trên nguyên tắc này, liệu nó có giúp ông dạy tôi điều ông đã hứa với nhiều hiệu năng hơn chăng?  

EUTHYPHRŌN : [9e] Về phần mình, tôi sẵn sàng chấp nhận rằng điều làm cho tất cả thiên thần đều hài lòng là sùng kính, và điều làm cho tất cả các vị đều bất mãn là bất kính.

SŌKRATĒS : Giờ ta phải xét định nghĩa này xem nó có đúng chăng, hay là ta sẽ chấp nhận nó đơn thuần, không kiểu cách gì thêm? Ta phải trọng thị bản thân và kẻ khác đến mức chìa tay đón nhận tất cả mọi chuyện tưởng tượng, chỉ cần ai bảo đảm điều gì đó là tin ngay, hay là ta phải khảo sát xem điều người ta nói có đúng không?

EUTHYPHRŌN : Phải xem xét chứ. Nhưng tôi tin rằng, lần này khó mà công kích nổi điều chúng ta vừa xác lập.

SŌKRATĒS : [10a] Chốc nữa sẽ hay; bây giờ ta cứ thử suy xét tiếp xem sao. Điều sùng kính được chư thần yêu thích bởi vì nó là sùng kính, hoặc giả nó là sùng kính bởi vì nó được chư thần yêu chuộng?[23]

EUTHYPHRŌN : Tôi thực chưa hiểu rõ ông muốn nói gì đấy, Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS : Tôi sẽ cố làm sáng tỏ câu hỏi vậy. Chúng ta thường nói: vật này được mang, vật kia mang; vật này được thấy, vật kia thấy; vật này bị đẩy, vật kia đẩy. Phải vậy không? Ông đã hiểu tất cả những vật này đều khác nhau, và khác nhau ở đâu chưa?

EUTHYPHRŌN : Có lẽ tôi hiểu rồi. 

SŌKRATĒS : Như vậy, vật được yêu chuộng khác với vật yêu chuộng?

EUTHYPHRŌN : Còn phải hỏi!       

SŌKRATĒS : [10b] Giờ nói tôi nghe, vật được mang là được mang vì người ta mang nó hay bởi một lý do nào khác?

EUTHYPHRŌN : Vì người ta mang nó chứ chẳng có lý do nào khác.

SŌKRATĒS : Và vật bị đẩy là bị đẩy vì người ta đẩy nó, vật được thấy là được thấy vì người ta thấy nó, phải không?

EUTHYPHRŌN : Tất nhiên.

SŌKRATĒS : Như vậy, không đúng là người ta thấy một vật gì vì nó được thấy, mà ngược lại, nó được thấy bởi vì người ta thấy nó. Không đúng là người ta đẩy một vật gì vì nó được đẩy, mà nó được đẩy bởi vì người ta đẩy nó. Không đúng là người ta mang một vật gì vì nó được mang, mà nó được mang bởi vì người ta mang nó. [10c] Nói thế đã sáng tỏ chưa? Ông hiểu rõ điều tôi muốn nói chứ? Tôi muốn nói rằng người ta không thực hiện một điều gì bởi vì nó được thực hiện, mà nó được thực hiện bởi vì người ta thực hiện nó; một sự kiện xảy ra không phải vì người ta trải nghiệm nó, mà người ta trải nghiệm nó bởi vì nó xảy ra[24]. Phải không?

EUTHYPHRŌN : Ai nghi ngờ được?

SŌKRATĒS : Được yêu chuộng cũng là một sự kiện, một trải nghiệm?

EUTHYPHRŌN : Đúng.

SŌKRATĒS : Và cái gì đúng cho sự yêu chuộng thì cũng đúng cho tất cả mọi chuyện khác, phải không? Không phải vì nó được yêu chuộng nên người ta yêu thích nó, mà bởi vì người ta yêu thích nó nên nó được yêu chuộng.

EUTHYPHRŌN : Rõ như ban ngày.

SŌKRATĒS : [10d] Như thế thì Euthyphrōn ơi, ta phải nói sao về sự sùng tín? Theo ông, tất cả thần thánh đều yêu thích nó, phải không?

EUTHYPHRŌN : Chắc chắn.

SŌKRATĒS : Bởi vì nó là sùng kính, hay vì một lý do nào khác?

EUTHYPHRŌN : Nếu không phải vì nó là sùng kính thì chẳng có lý do nào khác.

SŌKRATĒS : Như vậy thì thần thánh yêu thích nó bởi vì nó là sùng kính, chứ đâu phải nó là sùng kính vì nó được các vị yêu chuộng.

EUTHYPHRŌN : Dường như thế.

SŌKRATĒS : Mặt khác, điều gì làm thần thánh hài lòng là điều làm cho các vị yêu thích, và nó được yêu chuộng vì chư thần yêu thích nó, phải không?

EUTHYPHRŌN : Ai có thể chối cãi được?

SŌKRATĒS : Euthyphrōn quý mến ơi, cứ từ đó mà suy ra, thì điều được thần thánh yêu chuộng và điều sùng kính là hai thứ rất khác nhau.

EUTHYPHRŌN : [10e] Sao lại thế được?

SŌKRATĒS : Được chứ. Bởi vì ta đã nhất trí rằng: chư thần yêu chuộng điều sùng kính bởi vì nó là sùng kính, chứ không phải vì các vị yêu thích nó mà nó là sùng kính. Có phải ta đã đồng ý với nhau như thế không?

EUTHYPHRŌN : Xin công nhận.

SŌKRATĒS : Ngược lại, điều làm thần thánh hài lòng chỉ mang danh nghĩa đó bởi vì chư thần yêu chuộng nó, nghĩa là do chính sự yêu thích này của các vị, chứ không phải vì nó làm các vị hài lòng nên các vị mới yêu chuộng nó.

EUTHYPHRŌN : Đúng thế.

SŌKRATĒS : Nhưng mà Euthyphrōn quý mến ơi, nếu điều làm thần thánh hài lòng và điều sùng kính là cùng một thứ thì, do điều sùng kính chỉ được yêu thích bởi vì nó là sùng kính, [11a] kết luận sẽ là điều làm chư thần hài lòng cũng chỉ được các vị yêu thích nhờ tính đáng yêu của chính nó. Và bởi vì điều làm thần thánh hài lòng chỉ được các vị yêu thích bởi vì các vị yêu thích nó, nên nói rằng điều sùng kính chỉ là sùng kính do nó được chư thần yêu thích thôi cũng đúng. Nhưng ông thấy ngay rằng điều được thần thánh yêu thích và điều sùng kính không giống nhau chút nào: bởi vì một cái không có danh nghĩa nào để được chư thần yêu chuộng hết cả ngoài chính sự yêu thích này; trong khi cái kia được thần thánh yêu chuộng bởi vì nó còn có danh nghĩa khác. Nên chi, Euthyphrōn quý mến ơi, khi tôi hỏi ông sự sùng tín chính xác là gì, có lẽ vì ông không muốn giải thích cặn kẽ bản chất của nó, nên mới chỉ sơ sài cho tôi thấy một trong những đặc tính của nó là được tất cả chư thần yêu chuộng[25] mà thôi. [11b] Còn bản tính của sự sùng tín là gì thì ông chưa chịu nói. Vì vậy, bây giờ xin ông đừng giữ bí mật nữa, và vui lòng dạy bảo tôi thế nào là sùng tín đi, không cần biết nó có được thần thánh yêu thích hay không, hoặc là đối tượng của một sự việc gì khác, bởi vì chúng ta đâu có tranh cãi về những chuyện này. Thôi, đừng úp mở nữa, hãy nói thẳng tôi nghe bản chất của sự sùng tín và sự báng bổ là gì đi.

EUTHYPHRŌN : Nhưng mà, Sōkratēs ạ, tôi không biết phải giải thích ra sao điều tôi nghĩ với ông nữa; bởi vì những gì chúng ta cùng xác lập dường như cứ chạy loanh quanh hoài chứ không chịu đứng yên một chỗ.

SŌKRATĒS : [11c] Euthyphrōn ơi, những định nghĩa ông đưa ra khá là giống với loại hình thù mà tổ nội Daidalos[26] của tôi đẽo. Nếu tôi là người lập ra các định nghĩa trên, hẳn ông đã không quên bỡn cợt rằng tôi đã thừa hưởng được cái biệt tài làm ra những sản phẩm trơn tuồn tuột chứ không chịu nằm im này từ tổ tiên mình. Không may, chính ông mới là tay thợ[27] ở đây. Tôi phải tìm ra những lời chế giễu khác vậy, bởi vì rõ ràng là các định nghĩa của ông đã vuột khỏi tay ông, và chính ông cũng nhận biết điều đó.

EUTHYPHRŌN : Sōkratēs à, tôi không cần phải tự giễu mình bằng lời nhạo báng nào khác cả, bởi vì có phải tôi đã khiến cho những lập luận này của ta trở nên bấp bênh và biến hóa liên miên đâu! [11d] Theo tôi, ông mới đích thực là Daidalos. Những định nghĩa này sẽ không nhúc nhích nếu chúng chỉ tùy thuộc vào tôi.

SŌKRATĒS : Thế ra tôi còn khôn khéo trong thuật ăn nói hơn cả tổ Daidalos nữa, bởi vì ngài chỉ biết làm cho tác phẩm của mình linh hoạt26, trong khi dường như tôi còn di chuyển được cả tác phẩm của người khác nữa kia, và điều đáng phục hơn hết là tôi khéo mồm như thế một cách bất đắc dĩ thôi, [11e] bởi vì thực ra tôi ưa những nguyên tắc bất di bất dịch hơn cả sự khéo tay của tổ nội tôi lẫn kho báu của Tantalos*[28] cộng lại. Nhưng bỡn cợt bấy nhiêu đủ rồi: bởi vì ông quá ngại vất vả như thế, để tôi chỉ giúp ông cách thức có thể dẫn tôi đến giác ngộ về bản chất của sự sùng tín, khỏi phải bỏ cuộc giữa đường nhé. Xem nào, có phải ông cũng mơ hồ cảm nhận rằng điều sùng kính cũng đồng thời phải là công chính như một tất yếu tuyệt đối không?[29]

EUTHYPHRŌN : Đúng đấy. Không thể nào khác được.

3 - Định nghĩa thứ ba

SŌKRATĒS : Theo ông, tất cả những gì công chính đều là sùng  kính, và tất cả những gì sùng kính đều là công chính chăng?  [12a] Hoặc giả ông cho rằng không phải điều công chính nào cũng là sùng kính, có những điều là sùng kính, và có những điều khác là không sùng kính chăng?[30]

EUTHYPHRŌN : Tôi không bắt kịp ý ông đấy, Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS : Euthyphrōn hạnh phúc ơi, ông có hai lợi thế hơn tôi: trẻ và khôn ngoan. Nhưng như tôi nói ban nãy, ông quá trông cậy vào sự hiểu biết của mình. Chịu khó lay động bệnh uể oải này một chút; câu tôi hỏi có gì là khó hiểu đâu, nó chỉ đơn giản là điều đối lập với khẳng định sau của một thi sĩ[31]: «Về Zeus vị thần tạo dựng và sắp xếp vũ trụ, [12b] Mi không dám gọi tên: ở đâu có sợ hãi, nơi đấy cũng có tôn kính»[32]. Tôi hoàn toàn không đồng ý với nhà thơ này. Ông muốn nghe tại sao không?  

EUTHYPHRŌN : Có. Giải thích đi.

SŌKRATĒS : Theo tôi, dường như không đúng là ở đâu có sợ hãi, nơi đấy cũng có tôn kính; bởi vì người ta thấy mỗi ngày bao nhiêu người sợ hãi nào bệnh tật, nào nghèo đói và đủ thứ khác nữa, tuy nhiên họ không hề tôn kính điều họ sợ hãi. Ông có đồng ý không nào?

EUTHYPHRŌN : Hoàn toàn.

SŌKRATĒS : Ngược lại, ở đâu có tôn kính, nơi đấy có sợ hãi; bởi vì ai có tình cảm tôn kính và biết xấu hổ về một hành động sai trái nào đó mà lại không sợ hãi tai tiếng như hậu quả? [12c]

EUTHYPHRŌN : Chắc chắn là không.

SŌKRATĒS : Như thế, nói rằng ở đâu có sợ hãi, nơi đấy cũng có tôn kính là sai, phải nói rằng ở đâu có tôn kính, nơi đấy có sợ hãi mới đúng; bởi vì không đúng là sự tôn kính luôn luôn có mặt nơi nào có sợ hãi: sợ hãi có ngoại diên[33] rộng hơn tôn kính. Sự tôn kính so với sợ hãi cũng giống như con số lẻ so với con số vậy[34]. Ở bất cứ nơi nào có một con số, không nhất thiết ở đó phải có con số lẻ, nhưng ở bất kỳ nơi nào có một con số lẻ, ở đó nhất định phải có con số[35]. Bây giờ ông đã hiểu chưa? 

EUTHYPHRŌN : Rõ rồi.

SŌKRATĒS : Tốt! Điều tôi hỏi ông ban nãy cũng tương tự[36]  thôi. Có phải điều sùng kính và điều công chính luôn luôn đi đôi với nhau không? [12d] Hoặc giả: bất cứ nơi nào có sự sùng tín thì ở đó cũng có sự công chính, trong khi ở đâu có sự công chính thì không nhất thiết ở đấy cũng phải có sự sùng tín, bởi vì sự sùng tín chỉ là một phân loài của sự công chính mà thôi[37]. Ta nên đặt xác định này như nguyên tắc chăng, hay ông có cảm nhận nào khác?

EUTHYPHRŌN : Không. Có vẻ như đây là một nguyên tắc không thể bài bác.

SŌKRATĒS : Hãy cẩn thận theo dõi phần tiếp nhé. Nếu như sùng tín là một phần của công chính, thì chúng ta phải tìm ra được phần nào của công chính đích xác là sùng tín chứ. Giống như khi ông hỏi tôi con số chẵn chính xác là con số nào, và tôi trả lời ông: đó là con số có thể chia đôi làm hai phần bằng nhau. Ông cũng nghĩ như tôi chứ? 

EUTHYPHRŌN : Hoàn toàn không nghi ngờ.

SŌKRATĒS : [12e] Vậy, ông cũng nên cố dạy tôi phần nào của công chính đích xác là sùng tín đi, để tôi còn bảo Melētos* đừng hòng kết Sōkratēs vào tội báng bổ nữa, tôi, kẻ đã theo học ông đến nơi đến chốn thế nào là sùng tín và sùng kính, thế nào là báng bổ và bất kính.

EUTHYPHRŌN : Theo tôi, dường như sùng tín và sùng kính là phần công chính liên quan đến loại chăm sóc mà con người phải trả nợ cho thần thánh, còn tất cả các phần khác của công chính đều liên quan đến loại chăm sóc mà con người phải trang trải với nhau[38]

SŌKRATĒS : Tuyệt vời, Euthyphrōn ạ! [13a] Tuy nhiên, tôi thấy vẫn còn thiếu sót chút gì đó. Tôi chưa hiểu rõ lắm món nợ chăm sóc[39] mà con người phải trả cho thần thánh là gì đấy. Chắc chắn là ông không muốn nói đến loại chăm sóc giống như những thứ ta vẫn làm đối với vật phàm tục chứ[40]. Chẳng hạn như ta vẫn nói mỗi ngày rằng chỉ có kỵ sĩ mới biết chăm sóc ngựa, phải không? 

EUTHYPHRŌN : Vâng, đúng thế.

SŌKRATĒS : Như vậy, chuyện chăm sóc ngựa thuộc về thuật kỵ mã?

EUTHYPHRŌN : Nhất định.

SŌKRATĒS : Và không phải ai cũng chăm sóc chó săn được mà chỉ có thợ săn.

EUTHYPHRŌN : Chỉ có ông ta.

SŌKRATĒS : Như vậy, nghề thợ săn là lo chăm sóc chó săn.

EUTHYPHRŌN : [13b] Dễ hiểu.

SŌKRATĒS : Và nghề chăn nuôi bò là lo chăm sóc bò.

EUTHYPHRŌN : Đúng.

SŌKRATĒS : Và sự sùng tín là thuật chăm sóc thần thánh, có đúng ông nói thế không?

EUTHYPHRŌN : Chính xác.

SŌKRATĒS : Mọi chăm sóc đều nhằm mục đích là sự tốt lành và hữu dụng của đối tượng được chăm lo40, phải không? Ông thấy rằng con ngựa nào được kỵ sĩ giỏi chăm sóc đều trở thành tuấn mã cả chứ?

EUTHYPHRŌN : Đúng.

SŌKRATĒS : Về chó săn và bò cũng thế, nếu thợ săn và kẻ chăn nuôi bò vững tay nghề [13c]. Và trong tất cả mọi lĩnh vực đều như thế cả40, phải không? Hoặc giả ông có thể tin rằng sự chăm sóc của ta trên một đối tượng nào đó là nhằm gây tác hại cho nó? 

EUTHYPHRŌN : Không bao giờ, lạy Zeus.

SŌKRATĒS : Như vậy là nó nhằm làm lợi cho đối tượng được chăm sóc?

EUTHYPHRŌN : Chắc chắn.

SŌKRATĒS : Sùng tín, vì là thuật chăm sóc thần thánh, nhằm vào sự hữu ích và lợi ích của chư thần. Nhưng xin ông nói tôi nghe, ông có dám đề xuất rằng khi ông làm một hành động sùng kính nào đó, nó sẽ làm lợi cho một vị thần nào nhất định và làm cho vị ấy tốt hơn chăng?[41]

EUTHYPHRŌN : Không hề. Xin Zeus chứng giám.

SŌKRATĒS : Tôi cũng không tin rằng đấy là tư tưởng của ông, còn quá xa nó nữa là khác. Chính vì vậy tôi mới hỏi: loại chăm sóc mà con người phải trả nợ cho thần thánh như ông nói là gì [13d], chắc chắc rằng nó không phải là thứ ta vừa kể.

EUTHYPHRŌN : Thế là ông công bằng với tôi đấy, Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS : Càng tốt. Nhưng mà chăm sóc thần thánh như thế nào mới đúng là sùng tín?

EUTHYPHRŌN : Chăm sóc như người làm đối với chủ[42].

SŌKRATĒS : Tôi hiểu rồi. Kẻ sùng kính là người phục vụ, kẻ phục dịch, hầu hạ42 thần thánh.

EUTHYPHRŌN : Đúng thế.

SŌKRATĒS : Ông có thể nói tôi nghe người phục vụ trong y thuật dùng để làm gì không? Phải chăng là để chữa bệnh?

EUTHYPHRŌN : Đúng.

SŌKRATĒS : [13e] Còn người phục vụ trong thuật làm đồ gỗ dùng để làm gì?

EUTHYPHRŌN : Đóng tàu thuyền.

SŌKRATĒS : Còn người phục vụ trong thuật kiến trúc là để xây nhà, phải không?

EUTHYPHRŌN : Chắc chắn.

SŌKRATĒS : Vậy thì ông cho tôi biết người phục vụ thần thánh có thể dùng làm gì đi. Nhất định là ông biết thôi, bởi vì chẳng ai thông thạo chuyện thần thánh hơn ông hết cả.

EUTHYPHRŌN : Thật thế đấy, Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS : Thì nói đi, xin Zeus chứng giám. Nhờ sự sùng tín của chúng ta, chư thần đã thực hiện được điều gì tốt đẹp?[43]

EUTHYPHRŌN : Vô số chuyện tốt đẹp.

SŌKRATĒS : [14a] Tướng lĩnh cũng thế; tuy nhiên, điều chính yếu và ấn tượng nhất là những thắng lợi đạt được trên trận địa, phải không?

EUTHYPHRŌN : Rất đúng.

SŌKRATĒS : Nhà nông cũng làm khối chuyện hay đẹp; nhưng điều chính yếu là sản xuất lương thực nuôi người.

EUTHYPHRŌN : Đồng ý thôi.

4 – Định nghĩa thứ tư

SŌKRATĒS : Thế thì, trong số vô vàn chuyện tốt đẹp mà chư thần thực hiện được nhờ lòng sùng tín của ta đấy43, điều gì là chính yếu?

EUTHYPHRŌN : Sōkratēs ơi, như vừa nói ban nãy, [14b] không dễ gì mà giải thích chính xác cho ông tất cả những chuyện linh thiêng đó. Tôi chỉ có thể nói một cách tổng quát rằng: sùng tín  là làm cho chư thần hài lòng, bằng ngôn ngữ và hành động, bằng lời cầu nguyện và sự hiến tế[44], nên hành động sùng kính khiến cho gia đình thịnh vượng, thành quốc bền vững; ngược lại, báng bổ là làm cho các vị bất mãn, nên hành động bất kính luôn luôn khiến cho nước mất, nhà tan[45].

SŌKRATĒS : Thật ra, Euthyphrōn ơi, ông có thể giải thích điều tôi hỏi ngắn gọn hơn nhiều; [14c] nhưng rõ ràng là ông không muốn dạy tôi, bởi vì vừa rồi tôi sắp sửa bắt được ý ông thì ông lại làm nó vuột mất. Chỉ cần nói thêm một từ nữa thôi là tôi hiểu ngay được sùng tín nghĩa là gì rồi. Bây giờ, bởi vì học trò phải theo bén gót thầy[46], có phải ông nói rằng sùng tín là thuật hiến tế và nguyện cầu chăng?

EUTHYPHRŌN : Phải, tôi nói thế.

SŌKRATĒS : Hiến tế là cúng dâng, cầu nguyện là van xin.

EUTHYPHRŌN : Đúng thế.

SŌKRATĒS : [14d] Từ định nghĩa này, có thể suy ra rằng sùng tín là thuật cúng dâng và cầu xin thần thánh.

EUTHYPHRŌN : Giờ ông đã hoàn toàn hiểu ý tôi, Sōkratēs ạ

SŌKRATĒS : Chẳng qua nhờ tôi yêu quý sự thông thái của ông,  nên đã tập trung tất cả khả năng chú ý mà thôi. Đừng lo rằng tôi bỏ mất dù chỉ một lời nào của ông. Tóm lại, thuật phục vụ thần thánh, theo ông, chính là cúng dâng và cầu xin các vị ấy, phải không?

EUTHYPHRŌN : Đúng như ông nói.

SŌKRATĒS : Cầu xin đúng đắn là van xin chư thần ban cho mình những gì thiết yếu ta cần nhận được, phải không ?

EUTHYPHRŌN : Quá đúng.

SŌKRATĒS : [14e] Và cúng dâng đúng đắn là hiến tặng những gì thiết yếu mà chư vị cần nhận lại trong cuộc trao đổi, phải không? Bởi vì thật là vụng về nếu ta trao tặng ai điều họ không hề cần đến.

EUTHYPHRŌN : Không thể nào nói hay hơn, Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS : Euthyphrōn thân mến ơi, như vậy sùng tín là một hình thức mua bán giữa thần thánh với con người ư?

EUTHYPHRŌN : Ông muốn gọi nó như thế cũng được.

SŌKRATĒS : Tôi không muốn nếu thực chất nó không phải như vậy. Nhưng mà, nói nghe, chư thần thu nhận được lợi ích gì từ quà cúng dâng của chúng ta? [15a] Lợi lộc mà ta nhận được từ thần thánh là đáng kể, bởi vì chẳng có gì ta có mà không xuất phát từ sự rộng lượng của các vị[47]. Còn quà cúng của chúng ta thì ích dụng gì cho chư thần? Phải chăng ta còn khôn lanh hơn cả thần thánh trong trò mua bán này, đến mức chỉ một mình chúng ta thủ lợi? 

EUTHYPHRŌN : Sōkratēs ơi, ông nghĩ rằng chư thần không bao giờ có thể dùng quà cúng của ta vào việc gì thực ư?

SŌKRATĒS : Thế thì chúng có ích lợi gì cho thần thánh, nói nghe đi Euthyphrōn. 

EUTHYPHRŌN : Chúng dùng để tỏ lòng sùng tín của ta, và như tôi nói ban nãy, khao khát được các vị chiếu cố tán thành.

SŌKRATĒS : [15b] Ủa, bây giờ thì điều sùng kính là điều được thần thánh tán thành, chứ không còn là điều hữu ích cho các vị, mà cũng chẳng còn là điều được các vị yêu chuộng nữa!

EUTHYPHRŌN : Sao? Theo tôi, đấy mới là điều được chư thần yêu thích hơn hết thảy chứ!

SŌKRATĒS : Vậy, điều sùng kính là điều được thần thánh yêu chuộng ư?

EUTHYPHRŌN : Đúng, trên tất cả mọi thứ.

SŌKRATĒS : Ông nói năng như thế mà còn ngạc nhiên vì biểu văn của mình quá linh hoạt, còn dám buộc tội tôi đã làm cho nó di động không ngừng như Daidalos. Thực ra, Euthyphrōn vô song ơi, chính ông mới là kẻ khôn khéo, hơn cả tổ nội tôi nữa, vì ông còn làm cho nó xoay tròn được kia mà. Ông không thấy sao? Vòng vo tam quốc đã đời, bây giờ ông lại trở về điểm xuất phát [15c]. Ban nãy, điều sùng kính và điều được thần thánh yêu thích có vẻ như cùng là một thứ đối với chúng ta, ông còn nhớ chứ? 

EUTHYPHRŌN : Còn.

SŌKRATĒS : Thế thì, ông không thấy rằng bây giờ ông vừa nói rằng điều sùng kính là điều được chư thần tán thành, và điều được các vị tán thành là điều được họ yêu chuộng, phải không? 

EUTHYPHRŌN : Phải.

SŌKRATĒS : Hoặc chúng ta đã sai khi chấp nhận định nghĩa đầu, hoặc chúng ta đúng lúc đó thì bây giờ chúng ta lại định nghĩa sai.

EUTHYPHRŌN : Có vẻ như thế thật.

SŌKRATĒS : Như vậy, chúng ta phải tiếp tục tìm hiểu xem sùng tín là gì đi; dù phải bắt đầu lại từ đầu, chắc chắn tôi sẽ không nản chí cho đến khi ông chịu dạy tôi. [15d] Đừng khinh tôi dốt nhé, và xin ông tập trung tâm trí chỉ bảo tôi đâu là sự thật, bởi vì ông mà không biết thì còn ai biết nữa. Cho nên tôi sẽ bám riết ông như thể ông là Prōteus[48], nhất định không bỏ cho đến khi ông chịu nói. Bởi vì nếu ông không hiểu biết tường tận thế nào là sùng tín và thế nào là báng bổ, hẳn ông đã không quy bố ruột vào tội giết người và đòi lôi ông cụ ra tòa xử trị vì một người làm thuê, mà đã ngừng tay vì sợ làm điều sai trái, vì kính sợ thần thánh và tôn trọng con người. [15e] Đấy là lý do khiến tôi không nghi ngờ rằng ông tưởng[49] mình biết chính xác thế nào là sùng tín, thế nào là báng bổ. Cho nên Euthyphrōn siêu phàm ơi, xin ông dạy tôi đi, đừng giấu giếm tôi tri thức của ông nữa.    

EUTHYPHRŌN : Để khi khác, Sōkratēs ạ. Bây giờ tôi có chuyện gấp, phải kiếu ông thôi.

SŌKRATĒS : Euthyphrōn thân mến ơi, làm gì kỳ vậy? Ông bỏ đi ngang như thế là bỏ rơi tôi, là tước mất hy vọng được học hỏi ở ông về thế nào là sùng tín, sùng kính và thế nào là báng bổ, bất kính mà tôi từng tự hào. Làm sao tôi có thể thuyết phục Melētos để tôi yên thân bây giờ? Làm sao tôi còn có thể bảo đảm với y rằng [16a] Euthyphrōn đã cải tạo tôi, rằng từ nay tôi sẽ không đòi canh tân về chuyện linh thiêng vì ngu dốt nữa, mà sẽ vô cùng ngoan đạo trong suốt phần đời còn lại?

Platōn,

Euthyphro = Euthyphron

[5d-16a]

 

[1] Để trả lời Sōkratēs, Euthyphrōn chỉ đưa ra được một định nghĩa bằng thí dụ về sùng kính: sự mô tả một hành động («truy tố trước công lý»), và hành động này lại bị giản lược, một mặt, vào trường hợp đặc thù của y («điều tôi làm ngày hôm nay»), mặt khác, vào phần hình thức của nguyên tắc pháp lý (không có ngoại lệ): bất kể là tội gì («giết người, xúc phạm đến những vật linh thiêng hay loại tội tương đương»), và dù kẻ phạm tội là ai («cha mẹ, anh em, hay ai khác»). Xét về nội dung, định nghĩa thực chất chỉ là sự rập khuôn theo hành động của Zeus, vị chúa tể thiên đình đã từng vi phạm đủ thứ tội nếu xét xử ông ta theo văn hoá thế gian (giết cha, loạn luân, hiếp dâm, v. v...). Để phản biện, Sōkratēs chỉ cần hỏi: «Há không còn nhiều chuyện khác mà ông cũng gọi là sùng kính nữa sao? Điều tôi hỏi ông không phải là chỉ bảo tôi một hai hành động sùng kính trong vô số chuyện sùng kính khác. Tôi yêu cầu ông trình bày cho tôi tự thân ý niệm sùng tín kia».      

[2] Về chuyện Kronos* nuốt các con và Zeus mổ bụng bố, cũng như chuyện Ouranos* đày đọa đàn con và bị Kronos thiến, xem phần Phụ Lục liên quan. Ở đây, điều đáng chú ý là Euthyphrōn đã vô tình xác nhận rằng tất cả những chuyện vô luân, phi lý nói trên đều đã thâm nhập vào nền quốc giáo (tín điều, nghi lễ) của Athēnai từ lâu.

[3] Dựa vào huyền thoại về thần thánh để biện minh cho hành động cá nhân của mình là biểu hiện của hai căn bệnh nguy hại mà không chỉ Platōn với Sōkratēs, mà ngay cả nhiều tác giả đương thời như Aristophanēs đã không ngừng đả phá: giáo điều và cuồng tín. Không chỉ ở đây, về sau Platōn còn đề cập tới căn bệnh nguy hại này một lần nữa, cũng qua trường hợp của gia đình thần thánh quái đản này trong  Cộng Hòa (Republic)

[4] Bản dịch của B. Jowett ghi đơn giản: «for the love of Zeus». Vì ngoài cương vị là vị thần cai quản thiên đình, Zeus còn được thờ phụng dưới nhiều danh nghĩa khác nữa, trong số đó có Zeus Phillios (thần bằng hữu). Xem thêm ở Phụ Lục liên quan.

[5] Về các thi sĩ, khi có thể tham khảo, xem thêm: Nguyễn Văn Khoa, Tôn giáo và Chính trị ở Athēnai, đoạn I-1 và cht 2.  Về họa sĩ, có lẽ nhân vật Sōkratēs ở đây không nghĩ đến một họa sư nào nhất định, mà đến số tác giả đông đảo của những họa phẩm vẽ trên tường các sảnh đường, hoặc trên những món đồ gia dụng.

[6] Hàng năm, dân Athēnai đều tổ chức lễ thần Athēna* là hộ thần của thành quốc (Athēna Polias), và cứ 4 năm một lần, một ngày đại lễ Panathēnaia*. Trong ngày này, những hình ảnh về cuộc chiến giữa các thần ở Olympos* với các thần khổng lồ, đặc biệt là chiến thắng của Athēna trên Enkelados*, được thêu sặc sỡ trên một tấm áo choàng mà đám rước công kênh lên tận Thượng Thành để khoác lên vai pho tượng nữ thần.

[7] Sōkratēs chờ đợi một định nghĩa phổ quát, thường hữu; Euthyphrōn trả lời bằng một trường hợp cá biệt, ngẫu nhiên và thất thường.

[8] Không trả lời nổi thách thức, Euthyphrōn cũng không thể tiếp tục. Muốn giữ lối định nghĩa bằng thí dụ, y phải: một mặt, liệt kê tất cả những hành động mà y cũng gọi là sùng kính, điều y không thể làm được trước loại tập hợp mở này; mặt khác, y cũng phải có một tiêu chuẩn để chọn ra những hành động có thể gọi là sùng kính khác mà liệt kê, nghĩa là ít nhất cũng phải có một ý kiến (doxa), dù chưa có được một ý niệm chính xác, về điều y đang tìm kiếm. Thế nên, sau câu hỏi vặn của Sōkratēs, Euthyphrōn đã cố đưa ra một số ý kiến để thử định nghĩa sùng tín là gì. Khi có thể tham khảo, xem thêm: Nguyễn Văn Khoa, Tôn giáo & Chính trị ở Athēnai, các đoạn II-3 và II-4.

[9] Từ Hy Lạp dùng ở đây là eidos, chỉ ý tưởng (idea = idée, như ý tưởng sùng tín, ý tưởng công lý). Ý tưởng là khuôn mẫu (model = modèle) của sự vật cảm quan; khuôn mẫu là cái mà người ta bắt chước nhưng không bao giờ có thể tái tạo lại hoàn toàn giống; phán đoán là đặt sự vật cảm quan hữu hình vào một khuôn mẫu ý tưởng vô hình. Về sau, eidos được dịch nhất quán là bản chất trong thuật ngữ triết học. Lối định nghĩa bằng bản chất của sự vật mà Sōkratēs đòi hỏi ở đây là tiền thân của lý thuyết về Ý thể hay Mô thể của Platōn sau này. Về định nghĩa bản chất, khi có thể tham khảo, xem thêm: Nguyễn Văn Khoa, Tôn giáo & Chính trị ở Athēnai, các đoạn II-3 và II-4.

[10] Từ Hy Lạp paradéigma (sn paradéigmata) dùng trong nguyên bản mà chúng tôi dịch là «khuôn mẫu» hay «mẫu mực» ở trên, sau đã có một sự nghiệp khoa học hết sức rực rỡ. Đây chính là từ gốc của khái niệm «paradigm» (điển mẫu) mà triết gia khoa học Thomas S. Kuhn đã sử dụng trong tác phẩm The Structure of Scientific Revolutions

[11]  Bản dịch của V. Cousin: «Je dis que le saint est ce qui est agréable aux dieux, et que l’impie est ce qui leur est désagréable». Bản dịch của B. Jowett: «That thing or person which is dear to the gods is pious, and thing or person which is hateful to the gods is impious». «Agréable à», hay «cher à», hay «ce qui plait à» = «dear to» hay «god-beloved» (làm cho hài lòng, được yêu chuộng); «désagréable à», hay «ce qui déplait à» = «hateful to» hay «god-hated» (làm cho bất mãn, bị ghét bỏ) đều là loại từ vựng thiên về cảm tính. Có lẽ đấy là lý do khiến nhiều dịch giả sau này dùng «approuvé» hay «approuved» (được tán thành) và «désapprouvé» hay «dis-approved» (bị chê trách) để lập lại một sự cân bằng nào đó giữa tình cảm và lý trí trong loại nhận thức này. Khi chuyển ngữ sang tiếng Việt, chúng tôi linh động dùng cả hai lối dịch.

[12] Thoạt nhìn, định nghĩa thứ hai của Euthyphrōn có vẻ thỏa mãn được đòi hỏi về nguyên tắc đồng nhất của Sōkratēs (nhờ có tính trừu tượng cao hơn hình ảnh Zeus giết cha), và có thể được sử dụng như một loại hình bao gồm nhiều trường hợp cá biệt. Ý của Euthyphrōn là: Khi truy tố bố đẻ, tôi đã làm một hành động sùng kính, vì nó làm chư thần hài lòng; như vậy, ta có thể định nghĩa sùng tín là điều gì được chư thần tán thành. Thật ra, tiến bộ duy nhất ở đây là Euthyphrōn đã đề ra được một phẩm chất có tính trừu tượng và tổng quát, nhưng đặc tính đó chưa phải là bản chất của đối tượng; và để phản biện, Sōkratēs chỉ cần nêu lên mâu thuẫn đã thấp thoáng trong định nghĩa: theo lý luận này, sùng tín (điều sùng kính) với báng bổ (điều bất kính) chỉ là một, bởi vì cùng một sự việc có thể làm thần này hài lòng, tán thành, trong khi thần kia bất mãn, chê trách. Nhưng cho dù nó được tất cả thánh thần yêu thích đi nữa, thì đây cũng chỉ là một đặc tính phổ quát, một định nghĩa bằng đặc (thuộc) tính. Xem thêm cht 2225 bên dưới.

[13] Ở đây, Sōkratēs nhắc lại quan điểm của biện sĩ Gorgias: chỉ cho một người khác biết điều gì đó là đúng chưa phải là dạy, và không mang lại tri thức nào cả, ngay cả khi người nghe chịu tin theo; sự truyền dạy luôn luôn bao hàm yêu cầu giải thích để biện minh cho quan điểm được đưa ra.

[14] Theo nghĩa rộng, trái ngược chỉ sự đối lập tuyệt đối hay cái khác biệt tối đa (la différence maximale – Aristotelēs) trong cùng một trình tự  (lớn - nhỏ, đẹp - xấu) hay một tập hợp (màu sắc). Ở đây, chỉ cần hiểu theo nghĩa này. Chỉ về sau, luận lý học của Aristotelēs mới phân biệt cái mâu thuẫn (contradictory = contradictoire), với cái trái ngược (contrary = contraire), theo nghĩa cái mâu thuẫn là cái phủ định (cái mâu thuẫn với «trắng» là «không trắng», khộng trắng không bắt buộc phải là đen), và cái trái ngược là cái tương phản (cái trái ngược của «trắng» là «đen», bởi vì chúng là hai màu tương phản nhất trong tập hợp màu sắc). Hai khái niệm hay mệnh đề là mâu thuẫn với nhau khi sự khẳng định cái thứ nhất bao hàm sự phủ định cái thứ hai, và ngược lại; chúng không thể cùng đúng hoặc cùng sai một lúc. Hai khái niệm hay mệnh đề là trái ngược với nhau khi sự khẳng định cái thứ nhất bao hàm sự phủ định cái thứ hai, nhưng sự phủ định nó lại không bao hàm sự khẳng định cái thứ hai; chúng không thể cùng đúng một lúc, nhưng có thể cùng sai như nhau. Cái mâu thuẫn của mệnh đề «tất cả con người đều chết» là «tất cả con người không chết» (có ít nhất một người không chết), và cái trái ngược của nó là «Không con người nào chết cả».

[15] Những phán đoán về lớn nhỏ, dài ngắn, nặng nhẹ... là loại phán đoán về sự kiện (factual judgements). Vấn đề ở đây là đo lường một tính chất nào đó của đối tượng, chứ không phải là xác định bản chất của nó.  

[16] Những phán đoán về công chính và bất công, lương thiện và bất lương, phải và trái... là loại phán đoán về giá trị (value judgements). Ở đây, Sōkratēs đang cố làm cho Euthyphrōn hiểu tính đặc thù của giá trị, hiểu rằng y không thể tự tiện quy giản giá trị vào sự kiện, và đặt vấn đề giá trị như một vấn đề sự kiện. Và chừng nào Euthyphrōn còn chưa nhận thức được sự sùng tín như giá trị, còn nhìn nó như một sự kiện, khi đó y vẫn chưa thể nào nhìn ra bản chất của sự sùng tín.

[17] Ở đây, sự bất đồng ý kiến giữa các thần hay giữa con người với nhau không phải là luận cứ bênh vực chủ nghĩa tương đối (kiểu lý luận: tất cả các ý kiến đều đúng, bởi vì chúng đều có giá trị như nhau), mà trái lại, là một bằng chứng chống tham vọng nâng ý kiến lên hàng chân lý (không có ý kiến nào có sức chinh phục, bởi vì không có ý kiến nào là đúng). Đối với Sōkratēs, chỉ có sự phát hiện ra tiêu chuẩn chân lý mới có khả năng mang lại đồng thuận lý tính trong tranh luận, và phát biểu của Ông ở đây chỉ nhằm hiển thị sự kiện là lý tính chính là cái phổ quát nhất mà cả thần thánh lẫn con người đều phải tìm kiếm, chia sẻ.  

[18] Về chuyện Hēra vất con xuống biển vì tàn tật, và Hēphaistos sau bẫy mẹ bằng chiếc ngai quái quỷ để trả thù, xem thêm ở phần Phụ Lục liên quan. 

[19] Nói tóm tắt là: kẻ phạm tội phải đền tội. Cơ sở của chủ trương này là một quy tắc đạo lý cổ thường được gán cho thần Rhadamanthys*: «Được hay bị đối xử như đã đối xử với kẻ khác, đấy là công lý» («Être traité comme on traite les autres, c’est justice»), hay, «Khi nào một người phải chịu đựng hậu quả của việc mình đã làm, thì khi ấy công lý mới là hoàn hảo» («If a man should suffer what he hath done, then there would be strict justice»). Trong cuộc thảo luận về một định nghĩa công chính tương tự gán cho Simōnídēs* xứ Keōs – công chính là «nói sự thật và trả hết nợ của mình (trả cho mỗi người cái gì của anh ta») = «to speak the truth and to pay your debts (the giving to each man what is proper to him») – Sōkratēs hỏi Kephalos* : «Giả dụ một người bạn gửi khí giới cho tôi giữ khi tỉnh trí, rồi sau này khi mất trí đến đòi lại, liệu tôi phải trả vũ khí lại cho anh ta chăng? Không ai nói là tôi phải trả, và có lý khi làm như thế cả; cũng chẳng ai nói là tôi phải luôn luôn nói thực với kẻ đã mất trí như anh ta» = «Suppose that a friend when in his right mind has deposited arms with me and he asks for them when he is not in his right mind, ought I to give them back to him? No one would say that I ought or that I should be right in doing so, any more than they would say that I ought always to speak the truth to one who is in his condition» (Platōn, Republic, 331c). Đấy là nhìn công chính dưới góc nhìn cụ thể.

[20] Nhìn tội phạm dưới những góc cạnh cụ thể cũng có nghĩa là phải đặt quy tắc pháp lý vào những tình huống cụ thể khi xét xử. Trong hiện thực của loại án chết người đem xử tại các phiên tòa ở Athēnai đương thời: một mặt, vẫn không có thể lệ kháng án; mặt khác, trách nhiệm hạn chế và trường hợp giảm khinh khi phạm tội cũng không được công nhận, mặc dù sự phân biệt giữa cố sát với ngộ sát đã được thiết lập từ thời Drakōn* trên lý thuyết. Xem thêm về Drakōn và điểm này trong Phụ Lục liên quan.

[21] Theo bản dịch của V. Cousin: «... tu me crois la tête plus dure qu’à tes juges», có thể dịch câu văn này là «cứng đầu hơn», theo nghĩa là khó thuyết phục hơn, hoặc «đầu cứng (rắn) hơn», theo nghĩa là chậm hiểu hơn. Nhưng theo bản dịch của B. Jowett: «... you mean to say that I am not so quick of apprehension as the judges», chỉ có thể được dịch là chậm hiểu hơn. Ở đây, chúng tôi dịch theo nghĩa là chậm hiểu, thích hợp hơn với tính tự cao tự đại của Euthyphrōn.

[22] Dù tất cả thiên thần đều cho cái chết của anh tá điền là bất công, và do đó, đều bất mãn, Euthyphrōn vẫn chưa đưa ra được định nghĩa thỏa đáng về sùng tín. Điểm yếu trong thử nghiệm thứ hai của y ở đây là Euthyphrōn đã lấy một đặc tính của đối tượng làm bản chất của nó. Đối với loại đối tượng cụ thể, lối định nghĩa bằng thuộc tính này đã sai: ta không thể hiểu sự kiện «Sōkratēs là người được thần thánh yêu thích», nếu không biết Sōkratēs là ai. Với loại đối tượng trừu tượng, lại càng dễ sai hơn nữa. Nếu Euthyphrōn chỉ nhìn thấy ở sự sùng tín đặc tính là làm thần thánh hài lòng, được thần thánh yêu chuộng (cái ngẫu nhiên), y sẽ không bao giờ biết bản chất của sùng tín (cái tất yếu, cái làm cho nó được thần thánh hài lòng, yêu chuộng) là gì, bởi vì bất cứ điều vô giá trị nào cũng có thể được xem là sùng kính, nếu ta xác định được rằng nó được thần thánh yêu thích, mà các vị thì đâu chỉ yêu thích có mỗi một chuyện. Xem thêm cht 1225

[23] Nghi vấn cơ bản của luân lý học là: có thể có một thứ đạo lý không lệ thuộc vào thần thánh, nghĩa là vào tôn giáo chăng? Cho nên câu hỏi có vẻ lẩm cẩm của Sōkratēs ở trên, thật ra, là «một trong những câu hỏi quyết định nhất của tư tưởng phương Tây, đời sau gọi là «song đề Euthyphrōn». Chỉ cần đưa nó ra là toàn bộ quan hệ giữa đạo đức học với linh giới bị đặt lại thành vấn đề. Trong trường hợp thứ nhất, cả thần thánh cũng phải tuân phục đạo lý; trong trường hợp thứ hai, đạo lý là hoàn toàn độc đoán và bất nhất... Xem: Tôn giáo và Chính trị ở Athēnai, II-2.

[24] Đoạn này đều khá là luộm thuộm trong tất cả các bản dịch, có lẽ do cấu trúc của câu văn Hy Lạp, nhưng cũng có thể do sự sử dụng đồng thời hai loại hình tương quan ở Platōn. Tương quan tác động (action) / ứng động (passion) của một động thái (thấy, được thấy; đẩy, được đẩy; mang được mang); và tương quan trước / sau (như thể đây là một quá trình mà kết quả là sự hoàn tất quá trình đó: thấy, được thấy). Bản dịch của B. Jowett có thêm một đoạn không có trong bản dịch của V. Cousin: «and my meaning is that any state of action or passion implies previous action or passion» («và điều tôi muốn nói là bất kỳ một tác động hay ứng động nào cũng bao hàm một tác động hay ứng động có trước»).

Do đó, lý luận của Sōkratēs ở đây bao hàm: 1) sự phân biệt tác động / ứng động; 2) quan hệ nhân quả với tính không thể đảo ngược của nó (cái ứng động gánh chịu cái tác động, hệ quả xuất phát từ nguyên nhân của hành động, chứ không phải ngược lại:  vì người ta nhìn thấy một vật, nên vật đó được nhìn thấy chứ không phải ngược lại; vì người ta yêu thích một vật, nên vật đó được yêu thích chứ không phải ngược lại). Áp dụng cho vấn đề sùng tín thì: bởi vì một sự việc là sùng kính nên thần thánh yêu chuộng nó (chứ không phải vì chư thần yêu chuộng nó nên nó là sùng kính): sùng kính là nguyên nhân chứ không phải là hệ quả của sự được thần thánh yêu chuộng. Không có sự đồng nhất về bản chất giữa «sùng kính» với «được thần thánh yêu chuộng»; do đó, nếu vì bản thân nó, vì bản chất của nó mà sùng kính được yêu chuộng, thì phát biểu sau «sùng kính là được chư thần yêu chuộng» chỉ nói lên được một đặc tính, chứ không phải là bản chất của nó.

[25] Đây là sự phân biệt giữa «bản chất» («essence») với «ngẫu nhiên» («accident»), và giữa «bản tính» («essential» = «essentiel») với «thuộc tính» («attribute» = «attribut») trong triết học sau này, tuy có thể đã thông dụng từ thời đó, ít nhất trong tư duy, mặc dù chưa được xác định thật rõ rệt như thuật từ trong ngôn ngữ triết học cổ đại.

[26] Daidalos là điển hình xuất sắc của tài sáng chế và nghề điêu khắc trong thần thoại; theo truyền tụng, Daidalos làm được cả những pho tượng «có động tác». Daidalos được thờ như ông tổ của nghề đẽo và khắc trên đá vốn là kế sinh nhai của ông bố Sōkratēs là Sōphroniskos. Vì vậy, Sōkratēs mới gọi Daidalos ở đây là tổ nội của mình.

[27] Bản dịch của V. Cousin dùng từ «principes» («nguyên tắc», «nguyên lý», «khái niệm cơ bản»), bản dịch của B. Jowett dùng «words», «notions» («từ», «ý niệm»); ở đây, chúng tôi dịch là «định nghĩa». Mặt khác, trong biện chứng của Sōkratēs (biện chứng: nghệ thuật dùng vấn đáp giữa người này với người kia sao cho mỗi lúc một tiến đến gần chân lý hơn), người trả lời luôn luôn phải chịu trách nhiệm về hướng phát triển của cuộc trao đổi. Sōkratēs cho rằng, do Ông chỉ đặt câu hỏi thôi, ở đây Euthyphrōn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về sự luẩn quẩn của các định nghĩa. Thật ra, Triết gia không chỉ đặt câu hỏi, mà đôi lúc còn dẫn dắt, như khi bàn về đối tượng của sự bất hòa giữa các thần thánh, hay khi gợi ý rằng sùng kính cũng phần nào là công chính ngay ở câu sau.

[28] Vua hoang đường xứ Lydia (hay Phrygia). Sự giàu sang của Tantalos được nói đến như ngạn ngữ trong cổ sử.

[29] Với sự kết nối sùng kính vào công chính ở đây, quan hệ hữu cơ giữa thần thoại (tôn giáo) với đạo lý được đặt ra một cách trực tiếp và minh bạch (lúc trước, nó chỉ được nêu lên một cách gián tiếp và mặc thị trong khẳng định sau của Sōkratēs: một trong những đề tài thường gây bất hòa giữa các thiên thần với nhau là sự phân biệt công chính với bất công). Mặt khác, cần nhắc lại rằng quan hệ này không phải do Triết gia mà do địch thủ của Ông đặt ra: Sōkratēs sẽ phải ra tòa vì tội bất kính; nếu bất kính là một tội trước công lý, thì điều tất yếu là phải xem xét quan hệ giữa sùng kính với công chính, nhất là khi Euthyphrōn còn quả quyết: «Zeus là vị thần cao quý nhất và công chính nhất trong số các thần»

[30] Ở đây, với câu hỏi về tương quan giữa sùng kính với công chính này, vận động từ thế giới cảm quan đi lên ý tưởng của phương pháp biện chứng (tổng quát hóa, sự tìm kiếm định nghĩa bản chất) nhường chỗ cho vận động từ tổng thể (whole = tout) đi xuống các bộ phận (parts = parties), hoặc từ chi giống (genus = genre) đi xuống các phân loài (species = espèces) của phương pháp này (khu biệt hoá, sự phân loại đối tượng). Về hai vận động của biện chứng pháp, khi có thể tham khảo, xem thêm:  Platōn, Biện Chứng & Nguyễn Văn Khoa, Sōkratēs thành Athēnai, I-3b.

[31] Thi sĩ được nói tới ở đây là Stasinos xứ Kypros, nhà thơ cổ Hy Lạp nửa hoang đường, thường được xem là tác giả của 11 tập Kypria (thuộc bộ Sử thi thành Troy) mà đời sau kể như phần dẫn nhập vào Iliad của Homēros, kể lại những biến cố từ cuộc bầu chọn người đẹp nhất giữa ba nữ thần (Aphroditē, Athēna, và Hēra) của hoàng tử Paris đến trận chiến đầu tiên trước cửa thành Ilium (Troy). Xem thêm ở phần Phụ Lục liên quan.

[32] Về hình thức câu thơ được trích dẫn, bản dịch của V. Cousin ghi là: «Tu n’oses pas chanter Zeus, qui a créé et ordonné cet univers: la honte est compagne de la peur» (xấu hổ đi đôi với sợ hãi), còn bản của B. Jowett viết: «Of Zeus the author and creator of all these things, You will not tell: for where there is fear there is also reverence» (sợ hãi đi đôi với tôn kính). Ở đây, chúng tôi dịch câu thơ trên theo bản của Jowett, vì biết xấu hổ về một hành động sai trái nào đó của mình chính là biểu hiện của sự tôn kính trong ngữ cảnh của bản đối thoại này. Về nội dung câu thơ, nếu thi sĩ không dám gọi tên Zeus vì sợ, dù biết rằng Zeus là tác giả của nhiều chuyện bất chính trong vũ trụ, thì khi xác định rằng Ông không đồng ý «ở đâu có sợ hãi, nơi đấy cũng có tôn kính» và nói ngược lại với thi sĩ «ở đâu có tôn kính, nơi đấy có sợ hãi», ta có thể hiểu khá rõ nét thái độ bất kính của Sōkratēs đối với Zeus, bởi vì câu nói hàm ý rằng Zeus chỉ làm cho người đời sợ hãi chứ không tôn kính.

[33] Ngoại diên (extension) của một khái niệm là tập hợp tất cả những sự vật mà khái niệm đó chỉ định: ngoại diên của khái niệm «hình vuông» là tất cả những sự vật hình vuông; nội hàm (intension = comprehension) của một khái niệm là tập hợp tất cả những tính chất mà khái niệm đó bao gồm: nội hàm của khái niệm «hình vuông» là có 4 cạnh bằng nhau và thẳng góc với nhau chẳng hạn.

[34] Thí dụ về sợ hãi và tôn kính trên biểu thị quan hệ loài - phân loài  (genus - species = genre - espèces), trong khi thí dụ về số chẵn với số lẻ  biểu thị quan hệ tổng thể - bộ phận (whole - parts = tout - parties) trong vận động đi xuống của phương pháp biện chứng.

[35] Quan niệm về số ở Hy Lạp thời xưa chịu ảnh hưởng nặng nề của hình học, nên thật ra hai loại số có tên là số đều hay số cân (như trong tam giác cân, nay gọi là số chẵn), và số không đều hay không cân (nay gọi là số lẻ). Ở đây, chúng tôi đã dùng thuật từ hiện đại cho dễ hiểu.

[36] Loại suy (analogy = analogie) cũng là một phương pháp tư duy được Sōkratēs với Platōn sử dụng rất thường xuyên. Một hành động sùng kính cũng là hình ảnh của khái niệm sùng tín, tương tự như ảnh chụp hay ảnh vẽ là hình ảnh của vật thể. Phương pháp này cho phép ta vượt lên trên thế giới cảm quan để bước vào lĩnh vực tư tưởng, không chỉ nắm bắt sự vật mà cả quan hệ giữa các sự vật với nhau, nhờ đó mà cái đa tạp của cảm quan không còn là chướng ngại mà trở thành bàn đạp cho tư duy. Ngoài chức năng nhận thức, loại suy còn cho phép ta truyền đạt tư tưởng tới kẻ khác, nghĩa là nó còn có chức năng hướng dẫn. Trên thực tế, hiệu lực của phương pháp này còn tùy thuộc rất nhiều vào trình độ kẻ đối thoại (xem trường hợp Euthyphrōn bên dưới).

[37]  Nếu bất cứ nơi nào có sự sùng tín, ở đó cũng có sự công chính, thì sùng tín với công chính là hai khái niệm tương đương. Nếu ở đâu có sự công chính mà không nhất thiết ở đấy cũng phải có sự sùng tín, thì sùng tín là một bộ phận hay phân loài của công chính; hệ quả của nó sẽ là có những hành động tuy bất kính nhưng công chính. Nếu ở đâu có sự sùng tín mà không nhất thiết ở đấy cũng phải có sự công chính, thì công chính là một phân loài hay bộ phận của sùng tín; hệ quả của nó sẽ là ta phải công nhận là sùng kính cả những hành động bất chính.  

[38] Ở đây, Euthyphrōn chỉ nhắc lại quan điểm bình dân đương thời, theo đó sùng tín và công chính là hai giá trị tương đương, chỉ khác là sùng tín áp dụng cho thần thánh, trong khi công chính áp dụng cho con người. Về sùng tín, phát biểu của Euthyphrōn chẳng những không cho phép định nghĩa nó là gì, mà ngược lại, để có thể hiểu được, còn giả định rằng người nghe đã có trước một ý kiến (một định nghĩa tạm thời) nào đó về nó. Về công chính,  có thể nói thêm là nó chỉ áp dụng cho con người mà thôi, bởi vì ở các tác giả cổ Hy Lạp, kể cả Sōkratēs, công chính với súc vật là một tư tưởng hoàn toàn xa lạ. Chủ trương công chính với súc vật chỉ thấy ở Pythagoras, vì theo thuyết luân hồi của nhà tư tưởng có khuynh hướng thần bí này, linh hồn người chết có thể đầu thai vào thân xác súc vật, nên khi ta ngược đãi chó hay ngựa chẳng hạn, có khi là ta vô tình đánh đập, hành hạ ngay chính thân nhân của mình.

[39] Từ Hy Lạp là therapeía, có thể có hai nghĩa, một chân chính (vì là nghệ thuật = art), và một không chân chính (vì chỉ là sự tâng bốc = flattery), đối với thân xác hay tinh thần. Cho thân xác: sự chăm sóc chân chính là thể dục (gymnastic) và y thuật (medicine); sự chăm sóc không chân chính là trang điểm (tiring) và bếp núc (cookery). Cho tinh thần, sự chăm sóc chân chính là sự lập pháp (legislation) và công lý (justice); sự chăm sóc không chân chính là thuật ngụy biện (sophistry) và hùng biện (rhetoric). Xem: Platōn, Gorgias, 464b-465e. Mặt khác, để chăm sóc bất cứ đối tượng gì cũng phải có hiểu biết. Và nếu muốn sùng tín (chăm sóc thần thánh) cũng phải có hiểu biết, thì sùng tín phải khác với tín ngưỡng đơn thuần, với sự tận tụy mù quáng. Nhưng sự hiểu biết đó là gì, về cái gì? Đấy là vấn đề đặt ra cho Euthyphrōn.  

[40] Ở đây, để gợi ý cho Euthyphrōn suy nghĩ, Sōkratēs trở lại với phương pháp loại suy, bằng những thí dụ về kỹ thuật hay nghệ năng (chăm sóc ngựa, chó, bò) mà điểm chung là đều nhằm vào sự tốt lành và hữu dụng của đối tượng được chăm sóc. Nhưng bất chấp câu hỏi mớm nước đôi của Triết gia («Ông có dám đề xuất rằng khi ông làm một hành động sùng kính nào đó, nó sẽ làm lợi cho một vị thần nào nhất định và làm cho vị ấy tốt hơn chăng?»), Euthyphrōn vẫn không thoát ly nổi loại thí dụ nghiệp vụ ở trên, nên sẽ, một mặt, còn rơi thấp hơn nữa xuống hình ảnh người chăm sóc là kẻ phục dịch hay tên nô lệ, mặt khác, chỉ có thể xem hệ quả của sự chăm sóc là những kết quả vật chất hay thành tích nghề nghiệp mà thôi (sản xuất ra lương thực, chiến thắng trên trận địa...)

[41] Bản dịch của V. Cousin: «La sainteté, étant le soin des dieux, tend donc à leur utilité et leur profite. Mais dis moi, oserais tu avancer que, lorsque tu fais une action sainte, elle profite à quelqu’un des dieux?» (dịch như trên). Bản dịch của B. Jowett: «And does piety or holiness, which has been defined to be the art of attending to the gods, benefit or improve them? Would you say that when you do a holy act, you make any of the gods better?» («Và, định nghĩa như thuật chăm sóc thần thánh, sùng kính hay thành kính làm lợi hay tu bổ cho các vị, phải không? Nhưng ông có dám quả quyết rằng khi ông làm một hành động sùng kính, ông làm cho một vị thần nào đó tốt hơn chăng?»). Từ «profiter à» trong tiếng Pháp có nghĩa là «làm lợi cho», thường nghiêng về mặt vật chất, trong khi từ «improve» trong tiếng Anh có nghĩa là «làm cho tốt hơn», thường nghiêng về mặt tinh thần. Ở đây, chúng tôi cố giữ cả hai nghĩa. 

[42] Nguyên bản dùng upēretikē, từ có nghĩa chính xác là người phục vụ, phục dịch, tôi tớ (server = serviteur) như ở đây. Tuy nhiên, có lẽ do ở Sōkratēs có khuynh hướng xem loại tri thức có thể truyền đạt kể trên (chữa bệnh, đóng thuyền, xây nhà) như một thứ hiểu biết kỹ thuật mà thôi (tekhnē =  savoir-faire, art), cả hai bản dịch Anh và Pháp đều đã thay từ cụ thể chỉ người làm các nghiệp vụ bằng từ trừu tượng chỉ nghệ thuật hay kỹ thuật làm các nghề đó, tuy bản của B. Jowett cũng dịch upēretikē   là «a sort of ministration to» («một hình thức phục vụ cho») hay «an art which ministers to» («một nghệ thuật phục vụ cho»). Ở đây, cố gắng diễn tả cả hai khía cạnh, chúng tôi dịch là «người phục vụ trong thuật”.

[43]  Ở đây, dưới dạng câu hỏi và cả khi có vẻ như chấp nhận, thật ra Sōkratēs muốn bài bác một tin tưởng bình dân rất phổ biến là chúng ta có thể đóng góp vào hành động của thần thánh một cách nào đó. Nếu chờ người đời hiến tế thần thánh mới chịu ban phúc, thì đúng là các vị nhận hối lộ. Và nếu nhờ sự tu bổ của con người mà các vị mới có khả năng thực hiện một điều gì, thì các vị vẫn còn thiếu sót về mặt đó, vẫn còn cần đến người đời, nghĩa là chưa xứng đáng được gọi là thần thánh. Hơn nữa, ý nghĩ là con người có thể đóng góp một cách nào đó vào công việc, hạnh phúc hay đức hạnh của thần thánh là hoàn toàn lố bịch: làm sao con người có thể làm cho thần thánh tốt hơn, khi thần thánh được xem là linh thiêng chính vì các vị đã được giả định là tốt hơn con người? Ngược lại, thần thánh cũng không có năng lực đóng góp gì vào phẩm chất cao quý nhất hay nỗi bất hạnh lớn nhất của con người, nghĩa là vào sự hiểu biết hay sự ngu tối của mỗi người.    

[44] Nhiều tác giả cho rằng có thể xem đây là định nghĩa thứ tư về sùng tín của Euthyphrōn. Ở đây, sùng tín không còn là sự tự noi gương thần thánh (đn1), không còn là làm những điều thần thánh yêu thích (đn 2), không còn là thuật phục dịch thần thánh (đn 3) nữa, mà là thuật cầu cúng xin xỏ thần linh cho người đời (đn 4). 

[45] Đây không phải là một ý kiến vô thưởng vô phạt của Euthyphrōn. Thần dụ của đồng cô ở đền Delphoi* về số phận chiến cuộc, lời tuyên thệ thành công dân của các ephēboi* (xem Tôn giáo và Chính trị ở Athēnai, I.2), cuộc tẩy uế thành quốc sau chuyện bội ước giết Kylōn (xem phần Phụ Lục liên quan), vụ án các hermai* bị đập phá (xem Athēnai và Chế độ Dân chủ, II-5.c),... là bằng chứng về vai trò cực kỳ quan trọng của việc cầu cúng và nghi thức tôn giáo trong đời sống cộng đồng ở Athēnai xưa, và cả trong đời sống cá nhân nữa, vì tội lỗi của một công dân có thể khiến thần thánh căm phẫn và trừng phạt trọn một gia đình, thậm chí là toàn thể thành quốc.

[46] Các bản dịch sau thường thay thế «người hỏi» (học trò) và «người được hỏi» (thầy) ở đây bằng «người yêu»«người được yêu». Thí dụ: bản của Hugh Tredennick và Harold Tarrant dịch: «So now, because a lover can’t help following where his beloved’s whim leads... », hoàn toàn giống với bản dịch của Emile Chambry: «Présentement donc, car il faut que l’amant suive l’objet de son amour partout où il le conduit... ». Đây là một ngạn ngữ mà Sōkratēs có thể cũng đã áp dụng cho chính mình, bởi vì Ông tự nhận là người yêu quý sự thông thái của Euthyphrōn. 

[47] Câu này là một nhân nhượng hình thức cho Euthyphrōn. Bình thường, Sōkratēs cho rằng chỉ có con người mới có thể làm điều tốt cho mình, và dựa trên phương tiện duy nhất, đồng thời cũng là phẩm chất con người cao nhất, là sự hiểu biết.  Xem thêm cht 43 ở trên.

[48] Lão thần Proteus biết hết mọi chuyện quá khứ - hiện tại - tương lai, nhưng đồng thời lại có biệt tài biến đổi hình thể không ngừng khi bị săn đuổi, và chỉ chịu trả lời cho ai có khả năng bắt được mình. Do đó, muốn khai thác những hiểu biết bí mật của Proteus, phải bắt trói được lão trong khi Proteus còn đang vặn vẹo cơ thể để thay đổi hình dạng. Xem phần Phụ Lục liên quan.

[49] Biết thực và tưởng rằng mình biết là hai chuyện hoàn toàn khác nhau như Sōkratēs đã từng phát biểu tại phiên xử Ông, khi Triết gia nói về một chính khách Ông đã thử thách: «Có thể đúng là cả ông ta lẫn tôi đều không biết gì đáng kể…, song trong khi y tưởng mình biết mặc dù chẳng biết chi, thì tôi tuy không biết chi cũng không hề tưởng là mình biết. Như thế, ít nhất về điểm này, dường như tôi hiểu biết hơn: tôi không tưởng là biết điều tôi không biết» (Platōn, Sōkratēs Tự Biện Hộ, 21d). Tuyên bố trên hoàn toàn có thể được áp dụng cho Euthyphrōn ở đây.

CHUYÊN TRANG CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU Nguyễn Văn Khoa