NGUYÊN NHÂN, LÝ DO, NGẪU NHIÊN TRONG SỬ HỌC (A.-A. COURNOT, 1872)
Cập nhật ngày 15-12-2020
Từ khóa: Giải thích  Sử học ; Ngẫu nhiên (Khái niệm) – Sử học ;
Cournot, Antoine-Augustin  Trích đoạn
C2

NGUYÊN NHÂN, LÝ DO, NGẪU NHIÊN[1]
TRONG SỬ HỌC
(1872)

Tác giả: Antoine-Augustin Cournot*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Cournot, nhà toán học của thế kỷ XIX, đã đưa ra nhiều ý tưởng độc đáo liên quan đến lịch sử và triết lý sử học. Nhưng do sự tách biệt truyền thống giữa khoa học và triết học, cũng như tính đa dạng trong sinh hoạt tri thức của ông, đóng góp của Cournot chỉ được các sử gia và nhà xã hội học tham gia vào cuộc tranh luận về nền tảng phương pháp của các khoa học xã hội và khoa học nhân văn hồi cuối thế kỷ này khám phá lại và đề cao, sau một tiếp xúc ban đầu lạnh nhạt.

Ngày nay, ông được nhìn nhận như một trong các triết gia hàng đầu, và (cùng với A. Comte) một trong hai triết gia khoa học lớn của Pháp trong thế kỷ XIX, người đã để lại dấu ấn đậm nét trên tư duy sử học của thế kỷ XX, và là nhân vật bản lề đã góp phần đẩy dần mối quan tâm triết học về sử từ quan điểm siêu hình thống trị đương thời (Comte, Hegel, Marx) sang quan điểm phê phán, thông qua việc xem xét lại các phương thức giải thích và vấn đề nhân quả trong sử học – mặc dù triết lý sử học của ông cũng không hoàn toàn vắng bóng một số ý tưởng siêu hình! Ông đã để lại ảnh hưởng đáng kể trên nhiều sử gia Pháp lớn của thế kỷ XX, như Henri Berr*, Lucien Febvre*, và Fernand Braudel*.

*

1 – CÁI NGẪU NHIÊN, SỰ KIỆN TỰ NHIÊN

Chúng tôi tin mình đã làm sáng tỏ trong các tác phẩm khác, và định nghĩa chính xác hơn những người đi trước cái ý tưởng ngẫu nhiên[2], bằng cách vạch ra rằng: 1) nó không phải là một con ma được tạo ra để chúng ta tự che mắt về sự dốt nát của chính mình, cũng không phải là một ý tưởng nảy sinh từ trạng thái vô thường của vạn vật và tri thức không hoàn hảo của ta, như chúng ta vẫn thường nghe lặp đi lặp lại; 2) ngược lại, ngẫu nhiên là ý niệm về một sự kiện tự nó có thật, và chân tướng có thể được thiết lập bằng lý luận trong một số trường hợp, hay bình thường hơn, có thể được nhận diện qua sự quan sát, như bất kỳ một sự kiện tự nhiên nào khác. Nội dung của sự kiện tự nhiên, được thiết lập hoặc nhận diện như vừa nói, bao gồm sự độc lập với nhau của nhiều chuỗi nhân quả đã bất ngờ cùng tác động, để tạo ra một hiện tượng, dẫn đến một sự kết hợp, và quy định một biến cố nào đó, mà chính vì lý do này được gọi là tình cờ. Sự độc lập giữa các khâu nhân quả riêng biệt không hề loại trừ ý tưởng rằng tất cả mọi khâu này đều là những khoen được móc vào cùng một cái vòng nguyên sơ thiết yếu, vượt qua bên kia hoặc thậm chí nằm bên này giới hạn của mức suy luận hoặc quan sát mà ta có thể đạt tới. Từ sự kiện Tự nhiên phát động không ngừng và khắp nơi cái ngẫu nhiên, từ sự giao kết liên tục của các chuỗi nhân quả thứ yếu và độc lập với nhau, đã triền miên xảy ra những thứ mà ta gọi là kết hợp tình cờ hay thời vận. Nhưng điều này không có nghĩa rằng Thượng Đế đã không nắm tất cả trong tay Ngài, đã không khiến cái này hay cái kia sinh ra từ cùng một phán quyết nguyên thủy[3]. Ta không thiếu tôn kính với Thượng Đế, khi khảo sát loại quy luật của ngẫu nhiên hơn là khi nghiên cứu loại quy luật của thiên văn học hay vật lý học, bởi vì ngẫu nhiên cũng có những quy luật của nó mà sự đa tạp của các dạng thử nghiệm đã phơi bày một cách hiển nhiên. Ngay cả lý trí cũng áp đặt ý tưởng ngẫu nhiên cho ta; và sai lạc đáng gán cho sự dốt nát của chúng ta không phải là đã hun đúc ra ý tưởng này, mà là đã áp dụng nó tồi và hỏng, ngay cả bởi những người khôn ngoan nhất, như có thể thấy qua quá nhiều ví dụ. Ý tưởng ngẫu nhiên là nguyên lý của tất cả mọi dạng phê phán, dù thuộc loại hình nào – suy tư triết lý hay tìm tòi bác học cao nhất, hoặc thực tiễn hành động thông thường nhất trong cuộc sống. Ngẫu nhiên là ý niệm chìa khóa trong thống kê học. Ý tưởng này cũng mang lại ý một ý nghĩa không thể tranh cãi cho bộ môn gọi là triết lý sử học, mà chúng tôi thích gọi là căn do luận sử học hay hệ nguyên nhân lịch sử1 (étiologie historique) hơn, đồng thời định nghĩa như sự phân tích và tranh luận về các nguyên nhân (causes) và chuỗi nguyên nhân đã góp phần mang lại những biến cố tạo nên bức tranh lịch sử; các nguyên nhân này cần phải được nghiên cứu từ quan điểm xem chúng như vừa độc lập, vừa liên đới với nhau. Muốn cho rất nhiều hệ thống tư tưởng mà triết lý sử học từng là đối tượng đôi chút giá trị, cần phải luôn luôn trở về với những nguyên lý của sự phê phán hay của căn do luận sử học.

2 – SỰ KIỆN NGẪU NHIÊN, ĐỐI TƯỢNG CỦA THỐNG KÊ HỌC

Trong loại sự kiện chi tiết vốn là đối tượng thường ngày của thống kê học, và là nơi số lần thử của cùng một sự ngẫu nhiên có thể lên tới hàng nghìn, hàng triệu lượt, hiệu quả của sự tích tụ những lần thử là để thực hiện việc bù qua sớt lại tất cả những đặc trưng ngẫu nhiên, tình cờ, đồng thời nhằm làm nổi bật tác động của các nguyên nhân, tuy yếu ớt song ảnh hưởng thường xuyên lại phát xuất từ những điều kiện chủ yếu của sự sản sinh ra hiện tượng này, và về lâu về dài, sẽ chiếm ưu thế trên tác động của các nguyên nhân tuy mạnh mẽ hơn, song không thiết yếu và bất thường. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa thiết yếu và tình cờ không hoàn toàn dựa trên sự lặp lại của các lần thử; nó vẫn luôn luôn tồn tại, dù trong trường hợp một lần thử duy nhất hay một lượng lớn những lần thử của cùng một ngẫu nhiên, mặc dù chúng ta không còn tiêu chí thực nghiệm của khoa thống kê để tính toán phần hiện diện của mỗi bên. Nhưng không có tiêu chuẩn này thì lý trí vẫn còn cái khác, cụ thể là cái tiêu chí xuất phát từ ý tưởng rằng nó đã được thực hiện (đã xảy ra) hay phải được thực hiện (phải xảy ra), nghĩa là về sự đều đặn của quy luật, và về sự không đều đặn của sự kiện hay cái ngẫu nhiên.

3 – CÁI DO NGẪU NHIÊN VÀ CÁI LÀ HỆ QUẢ CỦA QUY LUẬT TỰ NHIÊN

Khắp vũ trụ, và ở mọi tầm cỡ lớn nhỏ, thiên nhiên phơi bày trước mắt ta sự tương phản giữa quy luật và sự kiện, giữa cái tất yếu và cái ngẫu nhiên. Một tinh vân chẳng hạn, thứ thiên thể chỉ là một tập hợp sao thất thường khi phân giải qua kính viễn vọng, được cấu tạo tình cờ như vậy bởi một sự ngẫu nhiên, mà quy mô về cả kích thước lẫn thời gian tồn tại đều vượt quá khả năng tưởng tượng của chúng ta; ngược lại, sự cấu tạo của Mặt Trời và của các hành tinh thành những phỏng cầu dẹt (sphéroïdes), là kết quả của một quy luật hoặc một sự tất yếu của tự nhiên. Mặt khác, khi thông tin về những tầng địa chất và thời kỳ tiến hóa đều đặn có thể thấy được ở khắp nơi, địa chất học dạy ta rằng, ở khắp nơi và vào mọi thời đại, lớp vỏ của Trái Đất, nơi ta đang ở, đã chịu tác động của những nguyên nhân địa phương và tình cờ, khiến nó khi rời ra, lúc trồi lên, khi sụp xuống, để rồi kết thúc bằng sự tạo ra các châu lục với địa hình lồi lõm và vòng vo như hiện nay, đồng thời rắc khắp các vùng biển của ta nào đảo, bán đảo, quần đảo, giống như vô số sao, chòm sao đã được rải khắp bầu trời. Có khi sự rung chuyển chỉ có tác động rất hạn chế; có khi nó được cảm thấy tận những nơi rất xa, trong các vòng tròn có bán kính lớn, hoặc dọc theo những đường nứt khổng lồ, nghĩa là nó đã có thể giăng ra khắp địa cầu và để lại những dấu vết không bao giờ phai, mà vẫn không mất đi tính ngẫu nhiên, và qua đó, sự tương phản với các quy luật của những cấu tạo địa chất đều đặn. Nhân loại có thể sẽ biến mất trong một cơn đại hồng thủy toàn cầu, nhưng vẫn đúng với sự thật là nó đã bị hủy diệt bởi một tai nạn tình cờ, y hệt như khi một cá nhân chết đuối trong một trận lũ; và phán đoán này chẳng có gì là không dung hòa được với niềm tin khiến ta nhìn tai biến ấy như một sự trừng phạt giáng xuống đầu một cá nhân hay một giống loài nào đó3. Ngược lại, khi các giống loài đã tuyệt chủng mà không bị bất cứ một chấn động địa chất nào đã tình cờ xảy ra và làm thay đổi hẳn điều kiện môi trường sống, thì chúng đã tiêu vong bởi một sự tất yếu, y hệt như khi mọi cá nhân đều phải chết già vậy.

4 – SỰ KIỆN NGẪU NHIÊN KHÔNG PHẢI LÀ CÁI TỰ NÓ KHÔNG THỂ ĐOÁN TRƯỚC

Hãy lưu ý rằng ý tưởng về sự ngẫu nhiên không hề bao hàm giả thuyết vô lý về một hiệu ứng không có nguyên nhân, hoặc ý tưởng về một sự kiện mà hiểu biết của người đời đã có thể ngăn chặn hay ít ra cũng đoán trước được, hoặc ngược lại, một sự kiện vượt quá mọi dự đoán. Nếu thừa nhận rằng cả sức nóng của Mặt Trời lẫn nhiệt độ riêng của địa cầu đều đang tiêu tán dần, nên một ngày phải đến kia – thực ra còn rất xa – Trái Đất sẽ mất hết khả năng nuôi sống mọi sinh vật trên đó, thì ta sẽ có ý tưởng về một hiện tượng được xác định dựa trên loại nguyên nhân bình thường, đều đặn, liên quan chủ yếu đến sự cấu tạo của hệ thống mà chúng cai quản. Nếu ngược lại, như đôi khi ta cũng tưởng tượng ra, và giả định rằng trong không gian vô tận và bên kia hệ Mặt Trời này, hiện có một sao chổi đang bay tới, để rồi một ngày kia sẽ va vào Trái Đất và hủy diệt mọi sinh vật sống trên đó qua ảnh hưởng tai hại của cuộc va chạm, thì ta sẽ có một ví dụ về loại nguyên nhân tình cờ, và nó sẽ không mất đi tính ngẫu nhiên, cho dù các nhà thiên văn hiện nay đã có thể trù tính thời điểm của cuộc va chạm. Ta còn có một ví dụ khác về cùng một sự tương phản giữa hai loại nguyên nhân, nếu đối lập hiện tượng thủy triều, mà những tính toán lên xuống đều đặn được ghi nhớ trong lịch sao (éphémérides), với nạn sụp tan của một băng hà hay hồ băng trên núi; và cho dù hiện tượng sau có được các tiến bộ về khí tượng học và địa thức học (géognosie) cho phép ấn định trước ngày tháng xảy ra, hay dù người ta có thể đề phòng được họa lũ lụt bằng tường chống, đập ngăn, rừng trồng… chăng nữa, thì chúng cũng không vì thế mà không phải là ngẫu nhiên.

5 - SỰ PHÂN BIỆT NGẪU NHIÊN – QUY LUẬT ÁP DỤNG VÀO LỊCH SỬ

Nếu không kể những khó khăn đặc thù của sự áp dụng trên thực tế, có thể áp dụng cùng những nhận xét như trên vào trình tự của sự kiện lịch sử. Điều kiện xã hội từ từ thay đổi suốt dòng tiến hóa của các thế kỷ, bởi những nguyên nhân mật thiết và tổng quát nói chung, mà tác động được gỡ mối qua bao nhiêu sự cố lịch sử; đồng thời loại chấn động mà ta đặt tên là cách mạng, được xác định bởi những nguyên nhân địa phương và tình cờ, cũng thực hiện đây đó những hành động với phạm vi ảnh hưởng khác nhau tùy lĩnh vực. Thường thì các phong trào này bắt đầu và kết thúc mà không tạo ra thay đổi nào đáng kể trong điều kiện xã hội; và từ khi đạo Hồi được gây dựng, châu Á Hồi giáo cung cấp cho ta cả ngàn ví dụ về loại cách mạng như thế. Những lần khác, khi các cuộc cách mạng đã khuấy động xã hội liên hệ ở mức độ đủ sâu, diện mạo và kết quả của các cuộc cách mạng này mang dấu ấn của một thời đại, làm rõ nét từng thời kỳ mà trình độ văn minh và tình trạng xã hội đã đạt đến trong cuộc tiến hóa chậm rãi hàng trăm năm đăng đẵng dưới thế lực của những nguyên nhân gọi là thường kỳ, bởi vì chúng là đơn giản – và chính sự đơn giản này chỉ rõ rằng chúng bám sát nguyên lý hay bản chất của sự vật. Do chính những bước tiến của nền văn minh, và sự thắt chặt quan hệ liên đới giữa các dân tộc, cú sốc cách mạng có thể tạo hậu quả gián tiếp ở khắp nơi trong thế giới văn minh: tuy nhiên, đây cũng sẽ chỉ là một sự kiện – thật ra là một sự kiện hàng đầu, một tình cờ khổng lồ – và dẫu nó có để lại những dấu vết không thể xóa nhòa, người biết lý luận sẽ không bao giờ lẫn lộn chúng với những hiệu ứng xuất phát từ loại nguyên nhân tổng quát và lâu đời, do một sự tất yếu của tự nhiên.

6 – ĐỊNH NGHĨA LỊCH SỬ : MÔ HÌNH VÁN CỜ

Nếu không có sự phân biệt giữa tất yếu và ngẫu nhiên, giữa thiết yếu và tình cờ, chúng ta thậm chí không có cả ý tưởng về bản chất thực của sử học. Hãy tưởng tượng một quyển sổ như thứ sổ mà các vị tư tế thời thượng cổ hay thầy tu thời man rợ dùng để ghi nhớ những ngày tháng từng xảy ra loại sự kiện được xem là huyền diệu hay lạ lùng – quái vật sinh nở, sao chổi bay ngang, sét đánh, động đất, lũ lụt, dịch bệnh. Nó sẽ không phải là sử ký. Vì sao? Bởi vì các sự kiện được liên tiếp báo cáo hoàn toàn độc lập cái này với cái kia, không cho thấy một quan hệ nhân quả nào; nói cách khác, bởi vì sự tiếp nối của chúng là hoàn toàn tình cờ, đơn thuần là kết quả của sự ngẫu nhiên. Nhưng nếu đấy là một quyển sổ ghi nhớ những quan sát thiên thực (nhật và nguyệt thực), những lúc đối vị hay gặp gỡ của các hành tinh, những lần quay lại định kỳ của sao chổi hay các hiện tượng thiên văn đồng loại, đặt dưới các quy luật thường kỳ, thì sao? Nó cũng không phải là sử ký nốt, song vì một lý do trái ngược, đấy là bởi sự ngẫu nhiên đã không có vai trò nào trong sự phân bố chuỗi sự kiện, và bởi vì mỗi kỳ của chuỗi này, do những quy luật chi phối loại hiện tượng trên, quy định hoàn toàn tất cả các kỳ tiếp theo[4].

Trong một trò chơi may rủi thuần túy, như trò ba-mươi-bốn-mươi[5] chẳng hạn, trong điều kiện mỗi ván chơi đều độc lập với ván trước và không ảnh hưởng gì tới các ván sau, sự tích tụ các ván bài có thể cho ta một bảng thống kê, nhưng không hề tạo ra lịch sử. Ngược lại, trong một ván xúc xắc[6] hay cờ vua mà các nước đi đều cuốn móc nhau, mỗi nước có ảnh hưởng tới nước sau tùy theo mức độ gần xa, tuy không quy định nó hoàn toàn, hoặc vì con thò lò còn tiếp tục can thiệp vào các cú ném sau, hoặc do phần tự do quyết định của mỗi tay chơi, thì ngoài sự phù phiếm về lợi tiền và tự ái mà kẻ thắng người thua đem đặt cược, người ta thấy hội đủ mọi điều kiện của một lịch sử đích thực, với các thời điểm mấu chốt, những hồi thăng trầm, những lúc tháo gỡ khúc mắc[7].

7 – LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI LÀ TÍCH LŨY ĐƠN THUẦN, CŨNG KHÔNG PHẢI LÀ TẤT YẾU TUYỆT ĐỐI

Nếu những khám phá khoa học có thể nối đuôi nhau bất kể theo thứ tự nào, thì các khoa học sẽ chỉ có một thứ ký biên niên (annales) chứ không hề có lịch sử: bởi vì nội dung của sự siêu việt của sử học so với biên niên là nó cho một sợi chỉ dẫn đường, nhờ đó người ta có thể nắm bắt một số khuynh hướng tổng quát, và tuy chúng không loại trừ kiểu thay đổi thất thường của ngẫu nhiên trong những tình cờ chi tiết, về lâu về dài các khuynh hướng này sẽ thắng thế, bởi vì chúng thoát thai từ cái thường xuyên và tinh yếu nhất trong bản chất của sự vật. Trong giả thuyết cực đoan sau, khi một khám phá nhất thiết phải dẫn đến cái khác, và khám phá thứ hai này cũng lại tất yếu phải đưa đến cái thứ ba, theo một trật tự được quy định một cách lô-gic, thì thật ra cũng sẽ không có lịch sử khoa học đúng nghĩa, mà chỉ có một bảng niên đại (table chronologique) những khám phá: phần đóng góp của cái ngẫu nhiên sẽ bị rút gọn vào việc nới rộng hoặc thu hẹp khoảng thời gian từ phát hiện này tới khám phá khác. Điều may mắn cho sự quan tâm về lịch sử là cả giả thuyết cực đoan trước lẫn cái sau đều không thể được chấp nhận; tuy nhiên, khi các công trình khoa học ngày càng được tổ chức, khi số lượng người nghiên cứu ngày càng tăng, khi các phương tiện thông tin liên lạc giữa họ với nhau ngày càng hoàn hảo, thì rõ ràng là ta đang tiến gần hơn tới giả thuyết thứ hai; ở đây, do sự loại bỏ hầu như hoàn toàn cái ngẫu nhiên, các khoa học sẽ thực sự thoát ra khỏi cái mà ta có thể gọi là thời kỳ lịch sử (phase historique)[8].

8 - LỊCH SỬ CHÍNH TRỊ VÀ LỊCH SỬ CÁC KHOA HỌC

Có nhiều lý do khiến cho phần tham dự của yếu tố ngẫu nhiên luôn luôn là lớn hơn trong lịch sử chính trị so với lịch sử của các khoa học:  tuy nhiên, ta có thể quan niệm rằng phần này sẽ phải giảm dần, khi sự quan trọng của các vĩ nhân cũng lần hồi nhạt nhòe trước sự tham dự và tỏa sáng của tất cả mọi người – nghĩa là khi các thế lực có số lượng và kích thước dần dần chiếm ưu thế ở khắp nơi trên trên những cảm xúc và đam mê, vốn là những hứng khởi ngẫu nhiên hơn, ít bền vững hơn. Vào thời xa xưa, trước khi những con người hùng vĩ đã sáng lập ra nền văn minh của các dân tộc xuất hiện, thì những dân tộc này chưa hề có sử học, không chỉ vì họ thiếu những sử gia, nhưng bởi vì dưới khối ảnh hưởng của các thứ lực bản năng mà quần chúng tuân theo, những điều kiện để lịch sử (theo nghĩa chúng ta hiểu) xuất hiện là hoàn toàn thiếu vắng. Nếu không có gì chặn đứng nền văn minh nói chung trên bước đường phát triển tiệm tiến của nó, thì ở một thời điểm nào đấy cũng phải đến thôi, các quốc gia sẽ chỉ còn có báo chí thay vì sử học, và có thể nói là thế giới văn minh sẽ bước ra khỏi thời kỳ lịch sử8, và sẽ không còn chất liệu gì cho những Hume, Macaulay, Titus Livius hay Tacitus[9] tác nghiệp cả, trừ phi trở đi trở lại trên một quá khứ xa xăm.

Lịch sử chính trị (và cũng phải nói như thế về lịch sử của ngôn ngữ, tôn giáo, nghệ thuật và các định chế dân sự) còn khác với lịch sử của các khoa học ở một điểm quan trọng nữa. Chúng ta có thể nói rằng trong các khoa học mà đối tượng tồn lưu độc lập, trong mọi nét thiết yếu của nó, với sự cấu tạo và những phát minh của tinh thần con người, thì không có gì tùy thuộc vào tính thất thường hoặc thị hiếu đặc biệt của người phát minh, vào sự tình cờ của những phát hiện khoa học hay vào trật tự liên tiếp của những khám phá, lại có thể tồn lưu vô thời hạn. Vì được đặt trên bản chất của sự vật, điều tốt nhất rốt cuộc rồi cũng phải luôn luôn được nhận ra, và sớm được đặt vào vị trí hiển nhiên không thể chống đối. Ngược lại, trong trình tự sự kiện chính trị xã hội, cũng như trong trình tự sự kiện tự nhiên, cái tuy nguồn gốc tùy thuộc vào loại tình huống ngẫu nhiên nhưng có khả năng để lại những dấu vết luôn luôn còn tồn tại, hay thậm chí chế ngự toàn bộ chuỗi biến cố tiếp theo, như trong các ván xúc xắc hay cờ vua, thì có bản chất không bao giờ thay đổi và thoát khỏi quyền lực của con người, như thể nó là một dữ kiện tự nhiên vậy. Vì sao sao Mộc lại có bảy mặt trăng thay vì sáu? Tại sao bán cầu Bắc của ta lại cho thấy nhiều vùng đất nhô lên hơn là ở Nam bán cầu? Tại sao bộ răng của loài bốn tay ở lục địa mới [Mỹ châu] lại có 4 răng nhiều hơn loài bốn tay ở lục địa cũ [châu Âu]? Có lẽ chỉ là chuyện tình cờ thôi: nhưng hậu quả của những ngẫu nhiên tương tự có thể tồn lưu cũng lâu dài như thế giới này. Đối với loại thiết chế nhân sự cũng thế; và vì vậy, nhất là trong lịch sử chính trị, có những khoảnh khắc nghiêm trọng, mang tính quyết định như ta vẫn nói, và tuy không phải lúc nào cũng là tụ điểm của những quan tâm bi hùng nhất hay kích thích sự tò mò của kẻ góp nhặt giai thoại nhất, chúng luôn luôn là các thời điểm phải thu hút ưu tiên sự chú ý của triết gia, nếu họ muốn nghiên cứu bằng căn do luận sử học.

9 – GIẢI THÍCH SỬ HỌC PHẢI TỰ BẰNG LÒNG VỚI NHỮNG XÁC SUẤT

Thật vậy, một mặt, triết gia bị ràng buộc bởi thiên chức vào việc tìm hiểu lý do của mọi sự vật; mặt khác (như được chỉ ra bởi từ aïtia, nguyên nhân, lý do), căn do luận sử học bao gồm việc nghiên cứu và thảo luận về các nguyên nhân mà sự kết chuỗi tạo thành cái nền của lịch sử. Nhưng ta phải đồng ý về các loại nguyên nhân đã[10]. Một tướng lãnh quân đội bỗng đau yếu đúng vào ngày phải ra trận sau một cảm giác khó chịu nào đó mà chỉ kẻ hầu cận của ông ta mới biết tại sao, hoặc một quyết định quan trọng đã được chính phủ thông qua như thế nào sau một âm mưu sa-lông nào đấy chẳng hạn, đều thuộc loại nguyên nhân được giới săn giai thoại ưa chuộng, đồng thời cung cấp thêm cho các nhà đạo đức một cơ hội bàn ra tán vào về sự yếu đuối và khốn khổ của con người, nhưng chúng không xứng đáng chút nào với căn do luận  sử học hay triết lý sử học, như chúng tôi hiểu. Trong hoàn cảnh nào thì chỉ cần sự can thiệp của một ngẫu nhiên thất thường cũng đủ để thay đổi hay hủy hoại cả một chuỗi biến cố dài? Trong hoàn cảnh nào khác thì một kết quả tất yếu không thể tránh né sẽ xảy ra, vì ở đó những dữ kiện tinh túy của tình thế cuối cùng đã thắng thế, vượt lên mọi tai nạn bất ngờ? Đó mới là mối bận tâm, chúng tôi không nói là của khoa học lịch sử, bởi vì sự chứng minh khoa học không phải là món đặt cược ở đây, nhưng của triết lý sử học, cái bị bắt buộc phải tự bằng lòng với những loại suy, quy nạp, tức là với phép tính xác suất, như mọi thứ triết lý khác – dù phải sử dụng nó một cách thận trọng và tỉnh táo mà sự nghiêm túc của chủ đề đòi hỏi. Khi thảo luận về điều trị y học, trong một số trường hợp, ta sẽ không ngần ngại quy sự phục hồi hoặc tử vong của bệnh nhân cho liệu pháp, mặc dù có thể chẳng bao giờ có được bằng cớ chứng minh rằng bệnh nhân sẽ chết hay sẽ được chữa lành bệnh nếu, hoặc theo một liệu pháp khác, hoặc không theo bất kỳ lối trị liệu nào. Đối với căn do luận sử học chỉ vừa mới ra đời, dám tự đưa ra một sự so sánh nào đó với bệnh căn học, vốn được trau dồi từ rất lâu, đã là quá nhiều.

10 – GIẢI THÍCH SỬ HỌC : TÌM LÝ DO HƠN LÀ NGUYÊN NHÂN 

Nếu muốn bám sát tính chính xác của ngôn ngữ, ta phải nói rằng căn do luận hay triết lý sử học tìm hiểu lý do của sự kiện hơn là nguyên nhân của sự kiện2,10. Bởi vì ý tưởng nguyên nhân hàm chỉ một hành động, một động lực có năng lượng riêng của nó; nhưng những gì công việc phê phán sử học phải làm nổi bật lên lại thường là các kháng cự thụ động, những điều kiện về cấu trúc và hình thức, những thứ về lâu dài và trong toàn bộ các biến cố, sẽ chiến thắng các nguyên nhân đúng nghĩa, những thứ đã can thiệp bằng phương thức riêng của mình vào việc sản sinh ra mỗi biến cố cụ thể đặc thù. Nếu sau nhiều lần ném xúc xắc mà con át vẫn xuất hiện thường hơn các con số khác, thì đấy là dấu hiệu có sự bất thường trong cấu trúc và sự phân bố của cả khối con thò lò, điều duy nhất có thể giải thích tần số được quan sát, nhưng do quán tính vật chất của con xúc xắc, nó chỉ can thiệp một cách thụ động, và do đó không phải là một nguyên nhân theo nghĩa chặt chẽ của từ này. Nếu ta cứ dùng từ nguyên nhân ngay cả trong trường hợp đó, và nói rằng sự bất thường về cấu trúc nói trên đã tác động trong chiều hướng thuận lợi cho sự xuất hiện của con át, thì đấy chỉ có thể là một trong những ẩn dụ hoặc chuyển tiếp mà chúng ta đã tìm đủ mọi cách để trục xuất ra khỏi ngôn ngữ nhưng vô vọng. Thực ra, ta sẽ loại bỏ như tình cờ và ngẫu nhiên, hay như xa lạ với đối tượng nghiên cứu, tất cả những gì liên quan đến hành động của các nguyên nhân đúng nghĩa, nghĩa là của những xung lực cứ mỗi lần lại biến thiên về cường độ và phương hướng một cách thất thường.

11 - GIẢI THÍCH SỬ HỌC PHẢI KHÔNG TỰ GIỚI HẠN VÀO LỊCH SỬ CHÍNH TRỊ 

Tương tự như vậy, nếu có thể so sánh trái núi với con chuột[11], thì các nhân vật được mời gọi xuất hiện trên sân khấu lịch sử (lịch sử như thường được hiểu và như ta phải hiểu), quốc vương, chiến tướng, nhà hùng biện, lập pháp, ngoại giao, đều có vai trò tích cực, đều can thiệp trong danh nghĩa nguyên nhân hiệu năng (causes efficientes)[12] vào việc xác định mỗi sự kiện rời rạc. Họ chiến thắng hay thua trận, họ kích động hoặc đàn áp các cuộc nổi dậy, họ thảo ra những luật lệ và thỏa ước, họ xây dựng và phê chuẩn các hiến pháp. Và vì chính họ đã bước lên sân khấu sau những dàn xếp chính trị, nên trước tiên có vẻ như chính trị đã tạo ra và dẫn dắt tất cả các phần còn lại. Tuy nhiên, trong mọi lĩnh vực lịch sử, chính trị sử rõ ràng là nơi xảy ra nhiều ngẫu nhiên, tình cờ và bất ngờ nhất: đến nỗi mà đối với các triết gia «xem thường sự kiện» (những kẻ chẳng quan tâm gì đến cái tình cờ và cái ngẫu nhiên, cho dù vì sao băng có tỏa sáng cỡ nào, vụ nổ bom có vang dội đến đâu), toàn bộ sử học cũng rơi vào cùng một nguy cơ bị khinh thị như các trò cuồng ngông của chính trị, nếu không chỉ có nhiều biểu hiện bên ngoài hơn là hiện thực trong sự dẫn dắt lịch sử bởi chính trị như một thứ bánh xe chủ đạo này, và nếu ta không phân biệt giữa nguyên nhân của những sự kiện (cái thất thường của người đời) với lý do của các biến cố (thứ rốt cuộc sẽ thắng thế trên cái thất thường của số phận và của con người). Một hoàng tử yếu đuối như món đồ chơi yêu thích trong tay tình nhân hoặc sủng thần thì cũng chẳng khác gì con xúc xắc mà một làn gió có thể xáo lộn các vòng lăn; nhưng nếu tên của ông ta là Louis XV hoặc Charles IV[13], thì phán quyết về triều đại của ông đã được viết ra, cho dù những trò đồng bóng của tình nhân hay sủng thần lúc đó làm nghiêng ý chí bệnh hoạn của ông ta về hướng nào.

Chính vì vai trò lớn hơn của ngẫu nhiên trong kết cấu dọc ngang của những biến cố chính trị, mà chính trị luôn luôn đứng sau và hầu như là thứ yếu trong phác thảo về phê phán sử học hay căn  do luận sử học này, trong khi nó luôn luôn dẫn đầu như đối tượng chính yếu của sử học trong thuật ký sử thông thường[14].

12 – GIẢI THÍCH SỬ HỌC KHÔNG LOẠI TRỪ TỰ DO CÁ NHÂN  

Bất kỳ ai nắm bắt được ý nghĩa của các suy tư trên sẽ nhận ra rằng đòi hỏi muôn đời chống lại mọi triết lý lịch sử của những kẻ mà chúng tôi sẵn sàng gọi là «đệ tử của Molina[15] trong lịch sử» là vô căn cứ biết bao nhiêu, khi họ cho rằng thứ triết lý này sẽ dẫn đến cái gọi là thuyết định mệnh trong sử học, không phù hợp với ý tưởng rằng người đời phải coi ý chí tự do của con người như một tác nhân đạo đức.  Thật ra, không hơn gì thống kê học, sử học và [các thứ] triết lý lịch sử cũng chẳng nhằm chống lại tự do của con người, và trút bỏ trách nhiệm về hành vi người đời của họ chút nào. Bởi vì số liệu thống kê tư pháp cho thấy xu hướng phạm tội biến thiên như thế nào theo giới tính, tuổi tác, điều kiện xã hội, và số liệu tội phạm ít biến thiên như thế nào trong nhiều môi trường quần chúng khi điều kiện xã hội không thay đổi, liệu người ta sẽ hết thù ghét và hết trừng phạt kẻ phạm tội chăng? Thà là làm ngược lại, như ở các sắc dân trẻ con, là gán những thất thường, một ý chí tốt hay xấu, cho cái lực cơ học đã ném con thò lò ra,  hay cho luồng gió đã thổi quay chiếc chong chóng chỉ hướng gió – một thứ cuồng tưởng theo đúng nghĩa của từ này. Lý thuyết về sự kết hợp các loại hình của lực là một lý thuyết lô-gic và trừu tượng, độc lập với tính chất cụ thể của từng lực riêng biệt. Khi đấy là một thứ lực mà khoa thống kê loại bỏ được các hiệu ứng biến thiên một cách bất thường nhờ sự đa tạp của những lần thử, thì dù cái lực đó có thuộc vào loại hình nào đi nữa – cơ học, sinh lý và bản năng, hay tinh thần – cũng không thành vấn đề. Trong mỗi trường hợp đặc thù, khi nó xuất hiện như nguyên nhân thực thụ, như lực tác động, bản chất của nó là rất quan trọng, hoặc thậm chí là tất cả vấn đề. Bồi thẩm đoàn muốn biết nhân vật đứng trước mặt họ là thằng ngốc, người điên hay kẻ phải chịu trách nhiệm tinh thần về hành động của mình; họ không cần sử dụng thống kê tư pháp để ra phán quyết; trong khi đó, các nhà lập pháp tham khảo số liệu thống kê để xác định giá trị của một định chế, không cần nhìn tới những dị thường quái gở, và không bận tâm về trường hợp cụ thể mà gánh nặng xét xử thuộc về bồi thẩm đoàn. Thực tế là sử học không dựa trên loại số liệu thống kê với hàng nghìn hay hàng triệu trường hợp đặc thù độc lập với nhau như ở thống kê học; vì vậy mà môn thống kê là một khoa học được xem là thực chứng một cách chính đáng, trong khi triết lý sử học chỉ là một triết lý; nhưng nếu nó không loại bỏ được loại nguyên nhân vẫn còn là tình cờ, bất chấp tính chất nguyên nhân hiệu năng hay tác động của chúng, bằng cùng một cách thức và tới cùng một mức độ như trong thống kê học, thì ta vẫn có thể áp dụng vào triết lý sử học cùng những nhận định liên quan tới các phán xét về bản chất nội tại của loại nguyên nhân tác động. Triết lý sử học không theo Jansen hơn là Molina[16], không độ lượng hơn là nghiêm ngặt; nó không được giao cho nhiệm vụ kết tội hoặc tha bổng, ân xá hay đày ải. Bằng cách thức riêng và trong giới hạn khả thi của mình, triết lý sử học tách biệt loại nguyên nhân cơ hội khỏi loại nguyên nhân thường kỳ, phân định đâu là phần của cái ngẫu nhiên, đâu là phần của cái tất yếu – một nhiệm vụ tự nó đã đủ khó khăn; và nhường lại cho lịch sử đúng nghĩa cái nghĩa vụ tuyên đọc các phán xét về những con người được số mệnh của mình gọi ra đứng trước thứ tòa án đáng sợ này của nó.

13 – LỊCH SỬ NỀN VĂN MINH VÀ LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜI

Ta không được nhầm lẫn căn do luận sử học – đối với chúng tôi, đó là triết lý của sử học – với lịch sử của nền văn minh[17], hoặc với một thứ lịch sử tổng quát của loài người hay nhân loại sử như người ta nói bây giờ. Nền văn minh có một lịch sử và một căn do luận sử học, như các tôn giáo, các thiết chế dân sự, như triết học và nghệ thuật, như khoa học, như thương mại và công nghiệp chẳng hạn; vì nền văn minh bao gồm tất cả những thứ đó. Đặc biệt, lịch sử của nền văn minh cho thấy nhiều nét tương đồng với lịch sử của các khoa học, ở điểm nếu nền văn minh riêng của một dân tộc nào đó có thể suy thoái, vẫn có một vốn liếng văn minh chung [của nhân loại] luôn luôn phát triển, theo kiểu các bộ môn khoa học và các ngành công nghiệp. Mặt khác, giống như lịch sử của khoa học có những sa mạc của nó, như chúng được gọi, lịch sử của nền văn minh cũng có những sa mạc của mình. Có nhiều thời điểm lịch sử cực kỳ rối rắm trong chi tiết, và các dân tộc tuy dao động hết sức nhộn nhịp vẫn không tiến được một bước đáng kể nào, về bất cứ hướng nào, đến mức có vẻ như ta có thể vùi tất cả bao chi tiết ấy vào quên lãng mà sự hiểu biết về toàn bộ thời kỳ vẫn không mất mát gì, như người ta đã từng vùi bao cuộc phiêu lưu của các bộ tộc đã mai một, hoặc sẽ biến khỏi mặt đất mà vẫn chưa thoát ra khỏi cuộc sống hoang dã, và chưa hề biết đời sống lịch sử là gì. Như vậy, một triết gia sẽ có thể lập nghiệp, nếu muốn, bằng cách tách riêng ra và làm nổi bật lịch sử của nền văn minh lên, qua bao nhiêu chi tiết chẳng mấy quan trọng, nhưng nó sẽ không đích xác là triết lý sử học, và tuyệt đối ta không bao giờ được lẫn lộn mối bận tâm về sự phát triển tiệm tiến của một nền văn minh, với mối quan tâm nảy ra từ lịch sử của mọi dân tộc thực sự đạt đến giai đoạn lịch sử trong tồn tại của mình.

Còn những ý tưởng mà chúng ta thích đặt ra về số phận của loài người, về cứu cánh cuối cùng của nền văn minh, về vai trò của vài dân tộc được ưu đãi trong việc theo đuổi cái mục đích tối hậu đó – loại ý tưởng đã khiến vô số đầu óc ưu tú phải trăn trở mà vẫn không đạt được bao nhiêu đồng thuận –, tất nhiên, chúng cũng thuộc về triết lý của lịch sử nếu ta muốn, nhưng đây lại là một thứ triết lý siêu nghiệm, đầy tham vọng, mang tính giả thuyết[18], chứ không  phải là thứ triết lý phê phán mà chúng ta nghe nói, và chúng tôi muốn cống hiến, trong giới hạn khả thi của một phác thảo nhanh gọn, thông qua một số tiểu luận. Nếu được phép sử dụng ngôn từ của Kant*, chúng tôi sẽ nói một đằng là căn do luận (étiologie) sử học, một đằng là mục đích luận (téléologie) lịch sử*.   

14 – THUYẾT CỨU CÁNH TRONG LỊCH SỬ VÀ Ý NIỆM TIẾN BỘ,  HAI Ý TƯỞNG CÓ VẤN ĐỀ

Một so sánh sẽ làm rõ ngôn ngữ trừu tượng này. Nghĩ rằng nhân loại đáng có một lịch sử diễn tiến phù hợp với một dự án toàn thể – được nhận biết hay tuyên phán – mà triết học lịch sử phải có nhiệm vụ gỡ mối, là điều chúng tôi không có ý định bài bác; thế nhưng khi nhìn toàn thể, trong sự đa tạp và sự tiếp diễn các thời kỳ đầy kinh ngạc của nó, thế giới sinh vật cũng là một đối tượng khá quan trọng, đáng cho ta đặt dưới những quy luật tổng quát và biểu lộ một ý tưởng cơ bản. Ở đây cũng vậy, với một vẻ ngoài cực kỳ hợp lý, người ta thường đưa ra các ý tưởng về sự thống nhất trong quy hoạch và cấu tạo hữu cơ, ý tưởng về sự tiến bộ hay hoàn chỉnh dần của các cơ cấu, hoặc trong sự phát triển cá thể, hoặc trong chuỗi các loài tồn tại đồng thời, hoặc trong sự xuất hiện liên tiếp và sự thay thế nhau của các loài. Tuy nhiên, trong số tất cả các ý tưởng trên, dù không cái nào đáng bị coi thường hay xóa bỏ hoàn toàn, cũng không ý tưởng nào là biểu hiện thích đáng và đầy đủ của những sự kiện, không cái nào có thể là cơ sở cho một hệ thống không thể kích bác, không cái nào cho ta chiếc chìa khóa vạn năng, cái công thức đúng và tối cao của Hóa Công – điều có lẽ vượt quá phạm vi tư tưởng, quan sát và suy luận của chúng ta. Được sử dụng thích hợp ở nơi này, nhưng lại có vẻ bất cập ở chỗ khác, theo sự giải mã của chúng tôi, các tư tưởng trên là sợi chỉ đỏ dẫn đường cho một vài bộ phận của hệ thống hơn là cho tất cả hệ thống; sự mạch lạc nằm trong các chương hơn là trong toàn bộ quyển sách. Bên cạnh rất nhiều dấu hiệu không thể phủ nhận được của sự tiến bộ*, cũng có triệu chứng của những thoái hóa từng phần và cục bộ. Và nếu phải công nhận những quy luật dù hiểu được hay bí ẩn, vẫn còn lại cái chương của sự ngẫu nhiên hay những tai nạn tình cờ; và đây không phải là một chương riêng biệt mà là một chương trộn lẫn mật thiết vào toàn bộ lịch sử. Dù sao đi nữa, chẳng có nhà tự nhiên học nào lại không xem như ảo tưởng và vô vọng cái ý đồ xây dựng tức thì một triết lý tự nhiên từ vài nguyên lý lô-gic mệnh danh là dữ kiện trực tiếp của lý trí, để từ đó làm nẩy ra cái khoa học cao nhất gọi là triết học này, thay vì kiên nhẫn vươn dần tới nó, từ những quy nạp mà các dữ kiện khoa học cung cấp. Chúng tôi không dám đẩy xa đến mức đó sự quên lãng các nguyên lý khác mà sự tiến bộ tinh thần thực sự của con người từ ba thế kỷ nay đã tùy thuộc.

15 – TÍNH HÃO HUYỀN CỦA MỌI HỌC THUYẾT SIÊU HÌNH VỀ LỊCH SỬ

Về mục đích luận* trong lịch sử hay triết lý [tư biện] của lịch sử như người ta vẫn hiểu, có lẽ ta cũng nên hành xử như thế chăng? Phải cùng với Hegel* «khởi hành từ giả định rằng, trong lịch sử thế giới, tinh thần con người tự biểu hiện, trong thực tế, dưới một loạt những hình thức mà mỗi dạng đều tương ứng với một dân tộc thực sự tồn tại» chăng? Nhưng tại sao lại giả định như vậy? Và nếu nó biểu hiện một cái gì đó khác hơn là sự thật tầm thường này – các nét tinh thần nổi trội của một dân tộc được thể hiện trong lịch sử của mình – thì nó biểu hiện cái gì? Liệu chúng ta sẽ làm cho lịch sử sáng tỏ hơn nhiều chăng, sau khi đã cùng với triết gia vĩ đại này phát biểu rằng «ở Ba Tư, cái bất định trở thành khả tri trong ánh sáng»? Hoặc giả cùng với [Victor] Cousin* «ân xá cho lịch sử tại mọi điểm trên độ dài thời gian của nó»? Hoặc nói rằng ở phương Đông mọi thứ đều bị hy sinh cho cái vô hạn, trong khi ở thời cổ đại Hy Lạp - La Mã thì cái vô hạn t

CHUYÊN TRANG CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU Nguyễn Văn Khoa