SƠ ĐỒ CÁC MÔN HỌC CHO TẦNG LỚP GIÁM HỘ (PLATŌN, khg 387-370 tCn)

LM : 15-11-2025

C1

Từ khoá : Giáo dục (Chương trình) Giám hộ (Tầng lớp) — Số học Hình học – Thiên văn học — Âm nhạc học — Triết học — Biện chứng pháp — Platōn, Trích đoạn

 

QUY TRÌNH GIÁO DỤC

CHO TẦNG LỚP GIÁM HỘ

(khg 387-370 tCn)

Tác giả: Platōn*

Bản tiếng Anh: Benjamin Jowett*

Bản tiếng Pháp: Victor Cousin*

Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

SŌKRATĒS : Ai là người chúng ta buộc phải chọn làm giám hộ[1] đây? Chắc chắn họ phải là những người thành thạo nhất trong loại công việc của Nhà nước, và nhờ vậy sẽ quản lý Nhà nước hữu hiệu nhất. Đồng thời họ cũng phải có một cuộc sống khác và tốt đẹp hơn là trong chính trường, và nó mang lại cho họ những vinh dự khác[2].

GLAUKŌN : Tất nhiên là tôi sẽ chọn những người như vậy. Họ đúng là những người ta phải nhắm tới đấy.

I – SƠ ĐỒ CÁC MÔN HỌC

SŌKRATĒS : [521c] Bây giờ ta thử xem xét coi những người giám hộ như thế phải được đào tạo ra sao, và làm thế nào họ có thể được đưa từ bóng tối ra ánh sáng — như thể từ cõi âm lên cõi của các thiên thần như người ta thường nói chứ?

GLAUKŌN : Tất nhiên.

SŌKRATĒS : Không đơn giản như trò chơi sấp ngửa[3] đâu! Đây là một quá trình xoay chuyển tinh thần[4], từ đêm đen sang ánh ngày rực rỡ, nghĩa là từ tăm tối vươn lên cái ta gọi là triết học đích thực.

GLAUKŌN : Đúng như thế.

SŌKRATĒS : Như vậy, chúng ta phải tìm hiểu xem, trong các loại tri ​​thức, thứ nào có năng lực tạo ra một thay đổi tương tự, đúng không?

GLAUKŌN : Chính xác.

SŌKRATĒS : Thứ tri thức nào [521d] có khả năng lôi kéo tinh thần ta từ vùng biến dịch sang cõi của hữu thể[5] hả Glaukōn? Tôi vừa nhớ lại thêm điều này: chúng ta mới nói rằng các triết gia của ta thời trẻ còn phải là những chiến binh lực lưỡng nữa, phải không?

GLAUKŌN : Đúng. Chúng ta đã nói thế.

SŌKRATĒS : Vậy thì, ngoài lợi thế trên, loại tri thức ta đang truy tìm phải có thêm một phẩm chất nữa chứ.

GLAUKŌN : Phẩm chất gì vậy?

SŌKRATĒS : Nó phải hữu ích trong chiến tranh.

GLAUKŌN : Đúng vậy, nếu có thể.

0 – GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG

SŌKRATĒS : [521e] Có hai phần trong sơ đồ giáo dục truyền thống[6] của ta, phải không?

GLAUKŌN : Chính xác.

SŌKRATĒS : Phần thể dục, vì nó quan tâm đến sự tăng trưởng hay suy sụp của thân thể, nên có thể được xem như có đối tượng là sự phát sinh và suy tàn nói chung, đúng không?

GLAUKŌN : Hiển nhiên.

SŌKRATĒS : Vậy thì nó không phải là thứ tri thức ta đang tìm kiếm.

GLAUKŌN : Chắc chắn.

SŌKRATĒS : Còn văn hoá[7], phần kia [522a] của giáo dục truyền thống như ta nóí ở trên, thì sao?

GLAUKŌN : Văn hoá*, như ông nhớ đấy, chỉ là phần đối trọng của thể dục mà thôi. Nó chỉ đào tạo giám hộ cho ta bằng thói quen, làm cho họ hoà thuận bằng sự hài hoà, cân bằng nhờ nhịp điệu, nhưng nó không thể đem lại cho họ khoa học; còn ngữ văn thì dù là hoang tưởng hoặc chân thực, chúng đều có các yếu tố chữ nghĩa y hệt như nhau. Như vậy, ở phần văn hoá*, cũng chẳng có gì hướng tới cái mục đích mà ông tìm kiếm hết.

SŌKRATĒS : [522b] Cậu nhớ chính xác những gì ta đã nói đấy. Và đúng là không có gì như ta chờ đợi trong phần văn hoá cả. Vậy thì, Glaukōn ơi, khi mọi môn hữu ích trong phần văn hoá đều bị xem như chỉ là kỹ năng, thì còn hiểu biết nào mới là thứ có bản chất như ta mong muốn chứ?

GLAUKŌN : Thật thế. Nếu loại bỏ cả phần thể thể dục lẫn phần văn hoá, thì đâu còn lại cái gì, một khi mọi ngành kỹ thuật đều bị xem là thấp kém[8]?

SŌKRATĒS : Ừ, có thể chẳng còn gì trong các môn học đặc trưng của ta cả. Vậy thì chắc chúng ta phải chọn một cái gì đó không đặc biệt là của ta, nhưng có những ứng dụng phổ quát mà thôi.

GLAUKŌN : Nó có thể là môn gì vậy?

SŌKRATĒS : Một môn gì đó mà chẳng những mọi ngành nghề kỹ thuật [522c] và khoa học[9], nhưng cả mọi thao tác trí tuệ nói chung nữa cũng đều sử dụng. Môn mà mọi người đều phải học trước tiên trong số những yếu tố phải học.

GLAUKŌN : Ông nói môn gì thế?

1 – SỐ HỌC

a] Lợi ích tổng quát của số học

SŌKRATĒS : Môn học chỉ có đối tượng nhỏ là phân biệt một, hai, ba — nói tóm gọn, môn học về tính toán và con số[10]. Không phải mọi ngành kỹ thuật* và khoa học* nhất thiết đều phải có chúng ư?

GLAUKŌN : Chắc chắn!

SŌKRATĒS : Do đó, cả nghệ thuật chiến tranh cũng phải có, đúng không?

GLAUKŌN : Nhất thiết phải như vậy.

SŌKRATĒS : Cho nên, mỗi khi xuất hiện trong các bi kịch, Palamēdēs[11] [522d] đều cố chứng minh rằng Agamemnōn là kẻ không phù hợp tới mức lố bịch với vai trò một thống tướng. Cậu có để ý là Palamēdēs tuyên bố rằng ông ta đã phát minh ra con số, nhờ đó đã đếm được số chiến thuyền, đã sắp xếp số chiến binh vào đội ngũ trước cổng thành Ilion [Troia, Troy, Troie] như thế nào không? Có thấy những điều ấy ngụ ý rằng chúng chưa bao giờ được đếm trước đó, nghĩa là Agamemnōn không có cả cái khả năng đếm hạm đội và quân đội của mình! — nhưng làm thế nào ông ta có thể, nếu không biết chi về lượng, về số cả? Nếu sự thật quả là như thế, thì Agamemnōn là thứ tướng lĩnh gì vậy, theo cậu?

GLAUKŌN : Tôi phải nói là rất kỳ cục mà thôi, nếu đúng như thế.

SŌKRATĒS : [522e] Để kết luận, ta phải đặt định rằng khoa học về con số và tính toán là thiết yếu cho mọi tướng lĩnh chăng?

GLAUKŌN : Chắc chắn, nếu ông ta muốn có chút hiểu biết gì, dù nhỏ nhất về chiến thuật, chiến lược, và tổ chức quân đội — hoặc thậm chí, có lẽ phải nói chỉ để nên người mà thôi.

SŌKRATĒS : Đúng đấy. Bây giờ, tôi muốn biết liệu cậu có cùng một suy nghĩ như tôi về khoa học này chăng, được chứ?

GLAUKŌN : Tất nhiên. Nhưng ông quan niệm nó như thế nào cái đã?

SŌKRATĒS : Đối với tôi, [523a] dường như đây là thứ học thuật thuộc loại hình chúng ta đang tìm kiếm. Nó dẫn ta đến trí tuệ thuần tuý một cách tự nhiên, nhưng lại hầu như nó không bao giờ được sử dụng đúng cách; bởi nếu được sử dụng thực sự đúng đắn, nó hoàn toàn có khả năng đưa ta lên thế giới của hữu thể[12].

GLAUKŌN : Giải thích ý của ông rõ hơn đi

b) Số học giúp ta phân biệt những nhập nhằng của cảm giác

SŌKRATĒS : Tôi sẽ làm. Nhưng cậu cũng phải tham gia nữa chứ. Mỗi khi tôi cố phân biệt trong đầu thứ tri thức nào có năng lực dẫn đến mục đích chúng ta tìm kiếm, thì cậu phải cùng xem xét với tôi, dù để đồng ý hoặc phản bác; như thế chúng ta mới có bằng chứng rõ ràng hơn, rằng số học chẳng hạn, có thứ năng lực ấy như tôi nghĩ.

GLAUKŌN : Được rồi. Chỉ cho tôi thấy đi.

SŌKRATĒS : Ý của tôi là [523b], nếu cậu nhìn kỹ, có hai loại đối tượng của giác quan; loại thứ nhất không hề mời gọi ta suy nghĩ, bởi vì chỉ cần sử dụng giác quan là đủ để nhận thức chúng; trong khi loại thứ hai không ngừng kêu gọi ta nghĩ suy, bởi vì ở trường hợp các đối tượng này, giác quan không mang lại cho ta điều gì đáng tin cậy cả.

GLAUKŌN : Khoảng cách xa gần, và cách thức tô vẽ sáng tối đậm nhạt khác nhau... ảnh hưởng tới giác quan của ta. Ông muốn nói chuyện này chứ gì?

SŌKRATĒS: Không hề. Cậu không hiểu ý tôi.

GLAUKŌN: Vậy ý ông là sao?

SŌKRATĒS: Khi nói rằng có loại đối tượng không mời gọi suy nghĩ, ý của tôi là vì chúng không cho ta hai cảm giác trái ngược nhau cùng một lúc. Còn những cái làm như vậy [523c] là loại đối tượng khiến ta phải suy nghĩ, bởi vì, trong trường hợp sau, khi cảm giác tiếp cận đối tượng, dù ở khoảng cách xa hoặc gần, nó không cho ta ý tưởng đối tượng là cái này hơn là cái đối lập với nó[13]. Cậu sẽ hiểu ý tôi rõ ràng hơn với ví dụ này: đây là ba ngón tay — ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa.

GLAUKŌN : Rồi. Ông nói tiếp đi.

SŌKRATĒS : Và cứ cho là ta đang nhìn chúng rất gần. Bây giờ hãy quan sát với tôi nhé.

GLAUKŌN : Quan sát cái gì?

SŌKRATĒS : Mỗi ngón tay đều xuất hiện như một ngón tay, chẳng là gì khác cả — [523d] cho dù ta nhìn nó ở giữa hay ở đầu ngón, cho dù nó là trắng hoặc đen, béo hay gầy. Trong mọi trường hợp, không ai buộc phải tự hỏi trí tuệ của mình phải chăng đây là ngón tay, hay ngón tay là cái gì, bởi vì thị giác chưa bao giờ cho nó thấy cùng một lúc rằng ngón tay là một cái gì khác hơn là ngón tay hết.

GLAUKŌN : Thật vậy.

SŌKRATĒS : Và do đó, đúng như tôi đã nói và như chúng ta có thể trông đợi, chẳng có gì ở đây mời gọi hay kích thích trí tuệ của ta cả.

GLAUKŌN : [523e] Đúng, chẳng có gì hết.

SŌKRATĒS : Nhưng về độ lớn hoặc nhỏ của các ngón tay thì sao? Liệu thị giác có khả năng nhận thấy sự khác biệt, khi ta nhìn ngón này ở giữa ngón, và ngón kia ở đầu ngón không? Và cũng tương tự như vậy, liệu xúc giác có cảm nhận được một cách thoả đáng độ dày hay độ mỏng, độ mềm hay độ rắn của ngón tay chăng? Còn các giác quan khác nữa, liệu chúng có cho ta những báo hiệu thỏa đáng về các vấn đề liên quan tới nhiệm vụ của chúng không? Phải chăng cách thức hoạt động của mỗi giác quan đều có tính nước đôi về mặt liên quan tới nó – nghĩa là cái giác quan dành cho sự cảm nhận phẩm chất cứng [524a] nhất thiết cũng dành cho sự cảm nhận phẩm chất mềm, và thông báo với trí tuệ rằng cùng một đối tượng cho nó cảm nhận là rắn và mềm*?

GLAUKŌN : Ông đặt vấn đề đúng đấy.

SŌKRATĒS : Và trong trường hợp này, phải chăng trước sự thông báo trái ngược của cùng một cảm quan, trí tuệ phải thấy bối rối[14], và phải tự hỏi về một đối tượng vừa rắn vừa mềm? Cũng vậy, trong cảm thức về nhẹ và nặng, nó phải hiểu thế nào là nhẹ, thế nào là nặng đây, nếu cảm giác nhẹ cũng là nặng, và cảm giác nặng cũng là nhẹ?

GLAUKŌN : [524b] Đúng thế. Những báo cáo mà trí tuệ nhận được này rất là kỳ cục và đòi hỏi phải được giải thích.

SŌKRATĒS : Đâu thể nào khác được. Trước những bối rối* này, tự nhiên là tinh thần* phải cầu cứu tới lý luận và tính toán, để có thể thấy những báo cáo mà nó nhận được ấy là về một hoặc hai vật thể chứ.

GLAUKŌN : Đúng thế.

SŌKRATĒS : Và nếu chúng hóa ra là hai, thì có phải là mỗi vật là một và tách biệt với vật kia không?

GLAUKŌN : Chắc chắn rồi.

SŌKRATĒS : Và nếu mỗi cái là một vật, và cái này với cái kia là hai vật, thì trí tuệ phải quan niệm hai vật ấy như ở trạng thái tách rời, bởi nếu chúng là không thể tách biệt, thì chúng chỉ có thể được quan niệm như một [524c] chứ không thể nào là hai vật được, đúng không?

GLAUKŌN : Chính xác.

SŌKRATĒS : Và mắt chắc chắn đã từng nhìn thấy cả cái nhỏ lẫn cái lớn, nhưng một cách lẫn lộn[15] chứ không phân biệt.

GLAUKŌN : Quả có như thế.

SŌKRATĒS : Trong khi ở trí tuệ thì sự suy nghĩ, với ý định rọi sáng mọi hỗn loạn, buộc phải nhìn vào cái nhỏ như tách biệt với cái lớn, chứ không lẫn lộn như ở thị giác.

GLAUKŌN : Đúng thế.

SŌKRATĒS : Phải chăng đấy là điểm khiến ta bắt đầu tự hỏi thế nào là lớn, thế nào là nhỏ?

GLAUKŌN : Chính xác là như vậy.

SŌKRATĒS : Và cũng từ đấy mà sinh ra sự phân biệt giữa cái thấy và cái biết, phải không?

GLAUKŌN : [524d] Quá đúng.

SŌKRATĒS : Đấy chính là ý của tôi ban nãy, khi nói về những ấn tượng mời gọi trí tuệ, hoặc ngược lại — những ấn tượng đồng thời với các cảm nhận đối lập thì mời gọi ta suy nghĩ; những ấn tượng không đồng thời thì không, bởi chúng không bao hàm các cảm nhận đối lập này.

GLAUKŌN : Bây giờ tôi hiểu rồi. Đồng ý với ông thôi.

c) Số học đưa ta từ thế giới cảm giác lên thế giới khả tri

SŌKRATĒS: Vậy thì theo cậu, đơn vị và con số thuộc về thứ nào trong hai tập hợp trên?

GLAUKŌN: ... Tôi không biết.

SŌKRATĒS: Suy nghĩ một chút đi, cậu sẽ thấy rằng những gì ta vừa nói trước đây sẽ cho cậu câu trả lời. Bởi vì nếu cái đơn vị có thể được nhận thức thích đáng bằng thị giác, hay bằng bất kỳ một giác quan nào khác, thì sẽ không có gì thu hút ta [524e] về thế giới của hữu thể* cả, như chúng ta đã nói ban nãy trong trường hợp ngón tay. Nhưng khi một số mâu thuẫn luôn luôn có mặt, khiến cho cái đơn vị có vẻ là trái ngược với một vật thể, và bao hàm ý tưởng nhiều sự vật, thì sự suy nghĩ bắt đầu thức giấc trong ta, rồi vì bối rối* muốn đi tới một quyết định, trí tuệ phải tự hỏi cái đơn vị tự thân (đơn vị tuyệt đối)[16] là gì. Đấy chính là cái cách thức qua đó nỗ lực tìm hiểu về cái đơn vị có năng lực lôi cuốn và chuyển trí tuệ về hướng phải suy nghĩ về [525a] hữu thể* bất biến.

GLAUKŌN: Và chính xác thì mâu thuẫn này đã xảy ra trong nhận thức về cái đơn vị bằng mắt, bởi vì chúng ta thấy cùng một vật vừa là một vừa là nhiều* trong vô số trường hợp.

SŌKRATĒS: Đúng. Và điều gì đúng cho một cũng phải đúng cho mọi con số khác, dù là số nào...

GLAUKŌN: Chắc chắn.

SŌKRATĒS: Số học và sự tính toán đều có đối tượng là con số, phải không?

GLAUKŌN: Phải.

SŌKRATĒS: Và do đó chúng [525b] dẫn trí tuệ đến chân lý, đúng không?

GLAUKŌN: Vâng. Một cách hoàn hảo.

SŌKRATĒS: Vậy thì đây là thứ tri thức có thể được xếp vào loại chúng ta đang tìm kiếm cho một sử dụng kép, vừa quân sự vừa triết học. Vì kẻ làm chiến tướng phải biết số học, nếu không ông ta sẽ không biết sắp xếp quân đội của mình ra sao; và triết gia cũng vậy, nếu ông ta muốn thoát khỏi thế giới có sinh có tử để vươn lên cõi của hữu thể*.

GLAUKŌN: Công nhận.

SŌKRATĒS: Và giám hộ của Nhà nước ta phải vừa là chiến tướng, vừa là triết gia, phải không nào?

GLAUKŌN: Chắc chắn.

SŌKRATĒS: Vậy thì đây là một loại tri thức mà luật pháp có thể quy định như môn học bắt buộc một cách phù hợp. Và chúng ta phải cố gắng thuyết phục những người sẽ là [525c] thành phần cao cấp chính của Nhà nước ta học số học, không phải một cách hời hợt, mà chuyên cần và liên tục, cho đến khi họ thấy được bản chất của những con số chỉ bằng trí tuệ, nhưng không phải trong mục đích mua bán kiểu thương gia hay kẻ tiểu thương, mà một lần nữa, nhằm vào những áp dụng quân sự, và còn xa hơn thế, giúp cho linh hồn phương tiện dễ dàng nhất để từ thế giới của những biến dịch vươn lên cõi vĩnh hằng của chân lý và hữu thể*.

GLAUKŌN: Thật là tuyệt vời.

SŌKRATĒS: Đúng thế. Và bây giờ, một khi đã nói về cái khoa học này, [525d] tôi còn phải nói thêm rằng tự thân nó là quyến rũ tới đâu! và có bao nhiêu cách nó hữu ích cho mục đích mong muốn của chúng ta, nếu được theo đuổi theo tinh thần của triết gia, chứ không phải của con buôn!

GLAUKŌN: Ông muốn nói gì thêm nữa vậy?

SŌKRATĒS: Ý của tôi là số học có một hiệu quả rất lớn như đã được chỉ ra. Nó mạnh mẽ đẩy linh hồn lên một không gian* cao hơn, buộc trí tuệ phải lý luận về con số như chúng tồn tại tự thân, nghĩa là một cách trừu tượng, và chống lại việc đưa những vật hữu hình, có thể sờ mó được vào thao tác tính. Cậu vẫn luôn luôn biết mà! [525e] Các bậc thầy của số học đều kiên quyết đẩy lùi và chế giễu bất cứ ai nỗ lực chia cắt chính cái đơn vị tuyệt đối khi tính toán, và nếu đối phương phân chia[17], thì họ nhân lên, chăm lo sao cho cái đơn vị sẽ tiếp tục là một chứ không mất hút trong những phân số.

GLAUKŌN: Đúng thế.

SŌKRATĒS: Bây giờ, [526a] giả sử có người nói với họ: «Hỡi các nhà toán học đáng phục, những con số tuyệt vời trong lý luận của quý vị, nơi có cái đơn vị như quý vị đòi hỏi, là gì vậy? Chúng ở đâu[18], những đơn vị như quý vị giả định, hoàn toàn bình đẳng, bất biến và không thể phân chia»?, thì liệu họ sẽ trả lời thế nào hả Glaukōn?

GLAUKŌN: Theo tôi nghĩ, họ sẽ trả lời rằng điều họ đang gọi là những con số không phải là đối tượng của giác quan, mà chỉ có thể được nhận thức bằng tư duy mà thôi.

SŌKRATĒS: Như vậy, cậu có thấy rằng thứ tri thức này có thể thực sự được xem là thiết yếu không, vì rõ ràng là nó đòi hỏi [526b] việc sử dụng trí tuệ thuần túy, nhằm đạt tới hiểu biết chân lý thuần khiết?

GLAUKŌN: Thấy chứ. Đấy là một đặc trưng rõ rệt của nó.

SŌKRATĒS: Và tôi nói thêm rằng những người có khiếu tính toán thiên bẩm thường nhanh trí ở mọi loại tri thức khác; còn ngay cả những kẻ chậm hiểu nhất, nếu đã được đào tạo về số học, cho dù họ có thể không có thêm được một lợi thế nào khác từ nó, cũng luôn luôn trở nên mau mắn hơn trước nhiều. Cậu có thấy thế không?

GLAUKŌN: Không thể chối cãi.

SŌKRATĒS: Trong khi thực ra, cậu sẽ không dễ gì tìm thấy một khoa học [526c] nào khó hơn nó, cũng không có nhiều bộ môn khó học và khó thực hành bằng nó.

GLAUKŌN: Tôi tin như vậy.

SŌKRATĒS: Vì tất cả những lý do này, số học là loại tri thức ở đấy những cá nhân có năng khiếu nhất phải được đào tạo; tuy nhiên ta cũng phải bắt đầu rất sớm, đồng thời không được bỏ dở nửa chừng.

GLAUKŌN: Nhất trí.

SŌKRATĒS: Vậy ta hãy lấy số học như một trong những bộ môn giáo dục của chúng ta. Và để tiếp tục, ta sẽ hỏi liệu một môn học khác gần gũi với nó cũng thích hợp với nền giáo dục của chúng ta chăng?

2 - Hình học

GLAUKŌN: Ý ông là hình học ư?

SŌKRATĒS: Chính xác.

GLAUKŌN: Rõ ràng là nó thích hợp chứ, [526d] ít ra là ở cái phần liên quan đến chiến tranh của hình học. Vì trong việc xây dựng quân trại, đánh chiếm một vị trí, đóng hoặc mở các tuyến phòng thủ của một đội quân, hay bất kỳ một hành động quân sự nào khác, dù là trong chiến trận thực tế hay trong một cuộc diễu hành, cách biệt giữa một tướng lĩnh có hiểu biết hoặc không biết chi về hình học, là một trời một vực.

SŌKRATĒS: Đúng. Nhưng trong mục đích đó, chỉ cần biết một chút hình học hay tính toán là đủ. Liệu cái phần tiên tiến hơn của hình học có hướng tới kỳ vọng cao xa của chúng ta phần nào chăng, [526e] nghĩa là có khiến cho tinh thần nhận thức được ý tưởng về cái Tốt tuyệt đối [tự thân][19] dễ dàng hơn chăng, đấy mới là vấn đề. Và, như tôi đã nói, mọi khoa học đều phải hướng về mục đích này, buộc tinh thần phải hướng mắt về nơi hữu thể* — hữu thể hoàn hảo nhất — này ngự trị, mà chiêm ngưỡng bằng mọi cách.

GLAUKŌN: Nhất trí.

SŌKRATĒS: Như vậy, nếu hình học buộc tinh thần phải chiêm ngưỡng hữu thể*, bản chất của sự vật, môn học này liên quan tới chúng ta; nếu nó chỉ cho ta thấy cái biến dịch, chỉ ngừng lại ở những cái ngẫu nhiên, những thuộc tính của sự vật, nó không thích hợp cho mục đích của ta ư?

GLAUKŌN: Đúng thế. Như chúng ta đã khẳng định.

SŌKRATĒS: Vậy mà bất cứ ai có chút quen thuộc với hình học đều sẽ không phủ nhận rằng một quan điểm như vậy về khoa học này lại chẳng dính dáng gì tới thứ ngôn ngữ thường ngày [527a] của những người sử dụng nó.

GLAUKŌN: Sao lại như vậy?

SŌKRATĒS: Bởi vì thường họ chỉ nhìn từ quan điểm thực tiễn mà thôi. Họ luôn mồm nói nào khoanh vuông, nào nối dài, nào mở rộng… và những từ tương tự. Họ đánh đồng một cách hẹp hòi và lố bịch những thiết yếu của hình học với loại nhu cầu của cuộc sống hàng ngày, trong khi khám phá và tri thức[20] mới là đối tượng thực sự [527b] của toàn bộ môn học này.

GLAUKŌN: Chắc chắn.

SŌKRATĒS: Vậy thì ta nên thừa nhận thêm điều này nữa.

GLAUKŌN: Điều gì?

SŌKRATĒS: Rằng thứ tri thức mà hình học hướng tới là tri thức về cái vĩnh hằng[21], chứ không phải là cái thoáng qua, cái sinh ra rồi chết đi.

GLAUKŌN: Dễ thôi, vì đấy là sự thật.

SŌKRATĒS: Như vậy, cậu bạn quý ơi, hình học sẽ lôi kéo linh hồn ta hướng về chân lý, tạo ra trong nó tinh thần triết học, và nâng tầm nhìn của ta lên, thay vì cứ để nó là là trên những sự vật của hạ giới.

GLAUKŌN: Ít môn học có được hiệu lực như thế.

SŌKRATĒS: [527c] Như vậy, ta không thể ân cần đề xướng cho cư dân thành quốc tương lai của ta điều gì khác hơn là: đừng xem thường, mà phải trau dồi hình học bằng mọi cách. Nhất là khi nó còn có nhiều hiệu lực gián tiếp không nhỏ khác.

GLAUKŌN: Những gì vậy?

SŌKRATĒS: Trước hết, những lợi thế quân sự như cậu đã nói. Mặt khác, như kinh nghiệm cho thấy, bất cứ ai đã học hình học đều lĩnh hội nhanh chóng hơn so với những người không học, trong mọi ngành học thuật.

GLAUKŌN: Đúng thế. Có khác biệt rất lớn.

SŌKRATĒS: Vậy thì chúng ta sẽ quy định hình học như nhánh tri thức thứ hai mà giới trẻ của ta bắt buộc phải học chứ?

GLAUKŌN: Hãy quyết định như vậy.

3 - Thiên văn

SŌKRATĒS : [527d] Bây giờ, nếu ta chọn thiên văn làm môn học thứ ba, thì cậu nghĩ sao, nhất trí chứ?

GLAUKŌN : Cũng đúng ý tôi đấy. Biết chính xác các mùa và năm tháng cũng thiết yếu cho nghề binh chẳng kém gì cho nhà nông hay người đi biển.

SŌKRATĒS : Thiệt tình! Cậu đúng là lòng tốt thuần túy. Có vẻ như cậu sợ người đời chê trách mình khuyến khích thứ học thuật vô ích. Lợi ích vững chắc nhất của các khoa học này, nhưng lại là cái rất khó làm cho ai thấy được giá trị, là chúng thanh lọc và hồi sinh một cơ quan của linh hồn*, [527e] bị che mờ và như thể bị bịt kín bởi những bận rộn của cuộc sống. Cái cơ quan mà sự bảo tồn còn quý ngàn lần hơn so với đôi mắt của cơ thể, vì chỉ thông qua nó mà chúng ta nhận thức được chân lý, là con mắt của tinh thần*. Khi cậu nói như vậy, những người có cùng suy nghĩ không thể không hưởng ứng; nhưng những kẻ chưa hề ngẫm nghĩ về điều ấy sẽ thấy nó chẳng có ý nghĩa gì; vì họ không thấy trong các khoa học này có điều gì khác đáng kể, ngoài những lợi ích cậu đã nói lúc đầu. Vì vậy, tốt hơn hết là cậu nên quyết định ngay đi, là cậu muốn nói với hạng người nào. [528a] Hoặc giả có thể cậu sẽ không chủ yếu nói với ai cả, mà mục đích chính khi tiếp tục chỉ là để tự cải thiện bản thân, tuy cậu cũng không ngại ngùng chia sẻ với bất kỳ ai khác có thể hưởng lợi được từ những suy nghĩ ấy.

GLAUKŌN : Tôi ưng tự suy nghĩ cho bản thân hơn, Sōkratēs ạ.

[3 a – Khối tích]

SŌKRATĒS : Vậy thì ta hãy lùi lại một bước nhé. Bởi vì ban nãy, sự thực là ta đã không theo đúng thứ tự, đã không lấy cái khoa học phải đến ngay sau hình học.

GLAUKŌN : Ta đã làm sai chỗ nào à?

SŌKRATĒS : Sau mặt phẳng, ta đã tiến ngay lên loại vật rắn trong chuyển động thay vì loại vật rắn tự thân. [528b] Lẽ ra, sau cái chỉ có hai chiều, chúng ta phải tính tới cái có ba chiều — nghĩa là tới các khối và những vật có chiều sâu[22] — thì mới đúng với đòi hỏi của trật tự tự nhiên chứ.

GLAUKŌN : Ông nói đúng đấy. Nhưng dường như cái khoa học về các khối chất rắn này còn chưa thành hình, Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS : Và vì hai lý do. Thứ nhất, vốn đã khó, nó lại không được Nhà nước nào bảo trợ, cho nên thiếu người theo đuổi. Thứ hai, những kẻ theo học nó cũng không thể tiến, nếu thiếu người hướng dẫn. Đã khó tìm ra thầy giỏi, mà khi may mắn tìm được, [528c] học viên lại quá tự mãn để nghe lời ông ta như trong tình hình hiện nay, thì cũng vô ích thôi. Nhưng nếu có một Nhà nước quan tâm đến loại công trình này, và nhận điều hành việc nghiên cứu, thì số người theo đuổi nó sẽ nhiều hơn, rồi nhờ những nỗ lực phối hợp và liên tục của cả đôi bên, thứ khoa học này sẽ thực sự phát triển. Bởi vì ngay cả bây giờ, bị xem thường và chỉ chiếm một tỷ lệ người nghiên cứu ít ỏi, lại nằm trong tay những kẻ không hiểu hết ích lợi của môn học, nó vẫn tiến tới chỉ nhờ sự hấp dẫn của bản thân. Một khi đã chẳng có gì đáng ngạc nhiên [528d] về vị trí hiện nay của nó, nếu còn được sự hỗ trợ của nhà nước nữa, thì chắc chắn có ngày nó sẽ vươn ra ánh sáng.

GLAUKŌN : Đúng là nó có lực hấp dẫn riêng đấy. Nhưng ông giải thích thêm về sự thay đổi trật tự ông nói ban nãy đi.

SŌKRATĒS : Được thôi.

GLAUKŌN : Ông đã bắt đầu với hình học cái môn vốn là khoa học về mặt phẳng, rồi ông đặt môn thiên văn ngay sau hình học. Nhưng sau đó, ông lùi lại một bước, đúng không?...

SŌKRATĒS : Đúng. Vì hấp tấp nên bây giờ tôi mới phải trở lui thay vì đi tới. Lẽ ra, sau hình học, tôi phải nói tới khoa học về vật rắn. Thế nhưng tình hình nghiên cứu đáng thương hại về loại vật thể này khiến tôi phải gác nó lại, để bước sang thiên văn, tức là khoa học về vật rắn trong chuyển động.

GLAUKŌN : [528e] Bây giờ thì tôi hiểu rồi.

SŌKRATĒS : Vậy, ta cứ làm như thể, nhờ sự quan tâm của Nhà nước, cái khoa học ngày nay còn thiếu ấy đã thành hình. Và ta cứ bước sang thiên văn, đặt ở vị trí thứ tư nhé.

3b – Thiên văn

GLAUKŌN : Thực vậy, khoa học này không thể không thành hình nay mai. Nhưng về thiên văn học, vì ban nãy ông trách tôi đã ca ngợi nó một cách vụng về, để tôi thử nói lại, xem có hợp với ý của ông hơn không nhé. [529a] Theo tôi, dường như ai cũng thấy rõ ràng rằng nó buộc trí tuệ ta phải nhìn lên, và nhờ vậy, vượt qua được loại vật thể trần tục để chiêm ngưỡng những sự vật trên trời.

SŌKRATĒS : Có lẽ điều này là hiển nhiên đối với mọi người, trừ tôi. Tôi không thấy giống như họ.

GLAUKŌN : Thế thì ông đánh giá nó như thế nào?

SŌKRATĒS: Tôi cho rằng, theo cách xử lý của những người muốn nâng môn thiên văn này lên tầm triết học, thì nó đang khiến chúng ta nhìn xuống chứ không phải nhìn lên.

GLAUKŌN: Ông nói sao chứ?

SŌKRATĒS: Thiệt tình! Hình như cậu có một ý tưởng quá thăng hoa về thứ tri thức mà đối tượng là những vật trên trời đấy. Cái kiểu này, nếu có một người nào đó, đứng ngửa mặt từ nền nhà nhìn lên những hoa văn trên trần, chắc cậu sẽ nói rằng ông ta đang nhìn bằng con mắt của tinh thần* chứ không phải bằng cặp mắt của thân thể! Có thể là cậu đúng, còn tôi thì ngây ngô. [529b] Nhưng tôi không thể công nhận là khoa học* khiến trí tuệ nhìn lên trên nào, ngoài thứ khoa học* mà đối tượng là những thực hữu*, cho dù chúng là không có hình thể đi nữa. Trái lại, nếu có ai đó nhìn lên trời, miệng há hốc tìm kiếm một cái gì đấy thuộc về cảm quan, tôi phủ nhận rằng anh ta đang học bất kỳ điều gì, bởi vì không có cái gì như thế là đối tượng của khoa học* cả, và tôi cho rằng theo cách này, trí tuệ không nhìn lên mà nhìn xuống, bất kể lúc đó anh đang nằm ngửa [529c] trên mặt đất hay mặt biển.

GLAUKŌN: Ông nói đúng, tôi đáng nhận phản biện vừa rồi. Nhưng xin cho tôi biết, ông muốn cải cách ngành thiên văn như thế nào, để khoa học này có thể dẫn dắt ta tới thứ tri thức chúng ta đang nói?

SŌKRATĒS: Như thế này. Chắc chắn những hoa văn trang trí vòm trời phải được xem là đẹp nhất và hoàn hảo nhất; [529d] tuy nhiên, vì tất cả sự tráng lệ [biểu kiến] này đều thuộc về trình tự của những vật hữu hình, tôi cho rằng chúng phải được xem là thấp kém hơn sự huy hoàng chân thực, do cái nhanh đích thực và cái chậm đích thực tạo ra, trong chuyển động tương đối với nhau của chúng, và trong các chuyển động của những vật thể to lớn chúng được kết hợp vào, theo số lượng thực sự và mọi dạng hình thực sự. Tất cả những điều trên là không thể thấy được, và chỉ có thể nắm bắt được bằng tư duy và sự hiểu biết. Hay có lẽ cậu tin vào điều ngược lại?[23]

GLAUKŌN: Không hề.

SŌKRATĒS: Vậy thì tôi nghĩ rằng vẻ đẹp mà bầu trời được tô điểm phải là cái tượng hình của vẻ đẹp khác kia, và sẽ được dùng để hướng dẫn chúng ta lên một thứ tri thức cao hơn, giống như những hình dạng [529e] được Daidalos[24] hay bất kỳ nhà điêu khắc hoặc họa sĩ nào khác thực hiện đối với một nhà hình học. Trong khi vẫn xem chúng là những kiệt tác nghệ thuật, nhà hình học sẽ cho rằng thật là nực cười nếu ông ta phải nghiên cứu chúng một cách nghiêm túc, để khám phá ra chân lý tuyệt đối về các quan hệ bằng nhau, gấp đôi, hay một tỷ lệ nào khác.

GLAUKŌN: [530a] Chắc chắn là sẽ hết sức lố bịch.

SŌKRATĒS: Và liệu một nhà thiên văn học đích thực sẽ không có cùng cảm nghĩ khi nhìn vào chuyển động của các vì sao chăng? Liệu ông ta sẽ không nghĩ rằng bầu trời và những thiên thể đã được Đấng tạo ra chúng[25] thực hiện một cách hoàn hảo nhất ư? Nhưng còn các quan hệ và tỷ lệ giữa ngày với đêm, hoặc giữa ngày đêm với tháng, giữa tháng với năm, hoặc giữa những vì sao với nhau, [530b] hoặc với Mặt Trăng và Mặt Trời, há cậu không tin rằng ông ta sẽ xem là ngông cuồng ư, nếu ta tưởng tượng rằng các quan hệ và tỷ lệ ấy là luôn luôn như thế, rằng bất cứ những sự vật vật chất và trông thấy được nào cũng có thể là vĩnh cửu, và nhất là nếu ta còn bỏ ra bao công sức để tìm hiểu sự thực chính xác về chúng nữa?

GLAUKŌN: Tôi chưa hề nghĩ như thế, nhưng tôi cũng tin như ông nói, Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS: Vì vậy, chúng ta hãy nghiên cứu thiên văn học như nghiên cứu hình học. Nghĩa là hãy tận dụng những dữ liệu mà nó cung cấp để giải quyết các vấn đề biểu kiến, [530c] và hãy để yên bầu trời cùng những hiện tượng thiên văn[26], nếu chúng ta muốn biến các năng khiếu trí tuệ của ta từ hiện trạng vô dụng thành hữu dụng thực sự.

GLAUKŌN: Sōkratēs ơi, ông đang làm cho việc nghiên cứu thiên văn học của chúng ta khó khăn hơn gấp mười lần so với hiện nay đấy.

SŌKRATĒS: Tôi nghĩ chúng ta sẽ đề xuất cùng cái phương pháp này cho các ngành khoa học khác, nếu ta muốn đạt tới một kết quả nào đấy, với tư cách là nhà lập pháp. Cậu có thể nhắc tôi thêm một khoa học nào nữa phù hợp với mục đích của chúng ta không?

GLAUKŌN: Hiện tôi không nghĩ ra khoa nào cả.

SŌKRATĒS : Chuyển động, chẳng hạn. Nó có nhiều hình thức, chứ đâu phải chỉ có một. [530d] Một nhà thông thái có thể gọi tên chúng tất cả; nhưng có hai thứ mà chúng ta biết.

GLAUKŌN : Những khoa học nào vậy?

SŌKRATĒS : Khoa chúng ta vừa nói, và cái tương ứng với nó.

GLAUKŌN : Đấy là khoa gì vậy?

4 - Âm nhạc

SŌKRATĒS : Giống như cặp mắt đã được thiết kế để nhìn lên các vì sao, có vẻ như đôi tai cũng được thiết kế cho những chuyển động hài hoà. Và thiên văn với âm nhạc là hai khoa học chị em như Pythagoras và môn đồ đã quan niệm, và như chúng ta cũng công nhận với họ, phải không Glaukōn yêu quý?

GLAUKŌN : Đúng thế.

SŌKRATĒS : Thế nhưng, vì đây là môn nghiên cứu quan trọng và đòi hỏi nhiều công phu, [530e] tốt hơn chúng ta nên cứ lấy ý kiến của họ về điểm này hoặc điểm kia, nếu cần có thể họ sẽ còn cho ta biết thêm nhiều ứng dụng khác nữa của khoa học trên chăng? Thế nhưng bên cạnh, chúng ta cũng phải luôn luôn duy trì phương châm của mình, không được quên mất cái đối tượng cao hơn của ta.

GLAUKŌN: Ý ông là sao? Phương châm gì vậy?

SŌKRATĒS: Rằng có một sự hoàn hảo mà mọi thứ tri thức đều phải nhắm tới như mục đích, và vì vậy, những học sinh của chúng ta cũng phải đạt tới đích, chứ không thể chỉ ngừng giữa đường, như tôi vừa cho thấy về trường hợp thiên văn học đấy thôi. Há cậu không biết rằng âm nhạc ngày nay cũng chẳng được xử lý tốt hơn bà chị thiên văn của nó bao nhiêu ư? Người dạy môn học này chỉ tự giới hạn vào việc đo các cung bậc và hợp âm cho tai nghe thôi: [531a] một công việc vừa không thể kết thúc, vừa cũng vô dụng như việc các nhà thiên văn hiện đang làm.

GLAUKŌN: Đúng là thật buồn cười, Sōkratēs ạ, khi chứng kiến các nhạc sĩ của chúng ta nói về cái mà họ gọi là các nốt cô đọng của họ, với đôi tai áp sát dây đàn, kiểu như kẻ tò mò đang cố bắt một tiếng động xuyên qua bức tường nhà hàng xóm vậy. Rồi người thì tin rằng mình đã phát hiện ra một nốt trung gian, và cái khoảng cách nhỏ nhất ấy phải được xem như đơn vị đo lường; kẻ thì ngược lại, cho rằng không có khác biệt nào giữa hai cung hết; [531b] nhưng tựu trung, họ đều nhất trí đặt thẩm quyền của đôi tai cao hơn của trí tuệ cả.

SŌKRATĒS: Đấy là cậu vẫn đang nói về các nhạc sĩ dũng cảm, những kẻ không chịu để dây đàn nghỉ ngơi, mà cứ thử thách chúng với các chốt lên dây, bằng đủ thứ thí nghiệm. Để không kéo dài phần mô tả này, tôi sẽ không nói gì thêm gì về những cú kéo vĩ mà họ thực hiện trên các dây đàn, và những lời buộc tội mà họ gán cho chúng, vì đã lì lợm hoặc không chịu phát ra một số âm họ chờ đợi, hoặc cứ nhất định phát ra những thanh chẳng ai yêu cầu. Tôi chỉ nói rằng đối tượng của tôi không phải là thành phần này, mà là những người chúng ta phải thực sự nhắm tới khi muốn tìm hiểu về chuyển động hài hoà, tức là Pythagoras và nhóm môn đồ của ông ta. Chí ít họ cũng làm một sai lầm tương tự như các nhà thiên văn học; [531c] họ tìm kiếm những con số trong các quãng hòa âm nghe thuận tai, nhưng họ không đi xa tới mức chỉ xem chúng như những dữ liệu đơn thuần, nhằm khám phá ra và phân biệt loại số hài hòa với loại số không hài hòa, cũng không tìm hiểu xem sự khác biệt giữa hai loại số này bắt nguồn từ đâu[27].

GLAUKŌN: Đây thực sự là một nghiên cứu siêu phàm, vượt xa thứ tri thức trần tục đấy, Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS: Tôi sẽ chỉ cho là hữu ích thôi, nếu nó được truy tìm với một định hướng về cái Đẹp và cái Tốt; nhưng nếu ta theo đuổi nó với một tinh thần khác, thì nó sẽ là hoàn toàn là vô ích.

GLAUKŌN: Rất đúng. Có thể chỉ là như vậy.

5 - Biện chứng

SŌKRATĒS: Về phần mình, tôi nghĩ rằng nếu việc nghiên cứu các khoa học mà chúng ta vừa đề cập [531d] tiến tới được các điểm tương hợp và các điểm kết nối bao gồm trong những quan hệ tổng quát giữa chúng với nhau, đồng thời chỉ ra được là tất cả liên quan với nhau như thế nào[28], thì lúc đó và chỉ lúc đó mà thôi, nó mới là hữu ích cho mục đích chúng ta nhắm tới, và xứng đáng để ta dành hết công sức cho nó, nếu không thì thật chẳng bõ công, và cũng chẳng ích lợi gì.

GLAUKŌN : Tôi cũng ngờ ngợ thấy như thế. Nhưng Sōkratēs ạ, ông đang nói về một công việc hết sức to rộng và lâu dài đấy.

SŌKRATĒS : Cậu muốn nói về phần đầu của ta chứ gì? Há cậu không đoán được rằng tất cả những gì chúng ta đã nói chỉ là khúc dạo đầu* cho giai điệu bây giờ mới đề cập tới ư? [531e] Bởi hẳn cậu cũng không tin rằng bất kỳ kẻ nào xuất sắc trong một khoa học cũng đều là nhà biện chứng[29] cả, mà nhiều khi chỉ là những chuyên gia trong khả năng đặt câu hỏi và tìm câu trả lời[30] mà thôi, đúng không?

GLAUKŌN : Đúng. Chắc chắn họ không phải là các nhà biện chứng, trừ một số ít ỏi tôi từng gặp.

SŌKRATĒS: Nhưng nếu một người không có khả năng đưa ra, hoặc nghe và hiểu lý do của mọi sự vật*, cậu có nghĩ rằng ông ta có thể thực sự biết những gì chúng ta đòi hỏi ông ấy phải biết chăng?

GLAUKŌN: Không thể nào.

SŌKRATĒS: Vậy thì, Glaukōn ơi, [532a] cuối cùng thì sau bao khúc dạo đầu*, bây giờ ta đang nghe chính giai điệu của phép biện chứng đấy. Đây là một khoa học hoàn toàn tinh thần, tuy nhiên nó vẫn có thể được biểu trưng bằng cơ quan thị giác như chúng ta đã trình bày: cặp mắt đầu tiên được vận dụng trên động vật, sau đó hướng lên các vì sao, và cuối cùng là đến chính Mặt Trời. Tương tự như vậy, người vận dụng suy luận biện chứng chỉ dùng lý trí để vươn tới bản chất của sự vật, không cần bất kỳ sự can thiệp nào của giác quan, và không dừng lại trước khi nắm bắt được bằng tư tưởng bản chất của cái Tốt* tuyệt đối chẳng hạn; người ấy đã đạt tới [532b] tột đỉnh của trật tự khả tri, cũng giống như kẻ nhìn thấy Mặt Trời đã đạt tới tột đỉnh của trật tự hữu hình.

GLAUKŌN: Thật vậy.

SŌKRATĒS: Cậu không gọi một quy trình như vậy là biện chứng ư?

GLAUKŌN: Có chứ, chắc chắn.

SŌKRATĒS: Hãy nhớ lại câu chuyện những kẻ sống trong hang tối đi[31]. Họ tự tháo gỡ khỏi xiềng xích; họ quay lưng lại những cái bóng, để hướng tới những hình ảnh nhân tạo và cái ánh lửa đã phóng chúng lên vách đá; rồi họ rời khỏi hang và đi lên[32] những nơi có ánh sáng Mặt Trời; ở đây, chưa thể đặt mắt trực tiếp lên các động vật, thực vật và Mặt Trời, [532c] trước tiên họ chiêm ngưỡng trong nước hình ảnh linh thiêng[33] của chúng và bóng của những sinh vật thực, thay vì bóng của những vật thể nhân tạo, do thứ ánh lửa được cho là ánh sáng Mặt Trời tạo thành – bởi vì so với ánh sánh Mặt Trời thì ánh lửa cũng chỉ là một bóng hình. Đây chính xác là những gì mà các khoa học chúng ta đã đề cập thực hiện trong thế giới trí tuệ; nó nâng cái phần cao quý nhất của tinh thần lên đến sự chiêm nghiệm hữu thể tuyệt vời nhất trong mọi hữu thể, giống như chúng ta vừa thấy cái giác quan nhạy bén nhất của cơ thể vươn tới sự chiêm ngưỡng vật thể chói lọi nhất trong thế giới hữu hình và có thể trông thấy.

GLAUKŌN: Tôi tạm thừa nhận những gì ông nói. Bởi vì thừa nhận hoặc phản bác chúng đều khó như nhau. [532d] Vả lại, đây không phải là vấn đề ta chỉ thảo luận ngày hôm nay, mà còn phải trở đi trở lại nhiêu lần nữa. Vậy, cứ giả định mọi chuyện như trong ẩn dụ của ông đi, bây giờ ta hãy nghiên cứu giai điệu này một cách cũng cẩn thận như chúng ta đã làm với phần dạo đầu. Ông nói cho chúng tôi biết đặc trưng của thứ đối thoại biện chứng này là gì đi nó có bao nhiêu loại hình, và đâu là những nẻo đường có thể dẫn tới nó? [532e] Dường như đây cũng là những ngả đường dẫn đến nơi kẻ lữ hành mệt mỏi có thể nghỉ ngơi và kết thúc cuộc hành trình của mình.

SŌKRATĒS: Glaukōn yêu quý ơi, e rằng ở đây cậu sẽ không theo tôi được, [533a] mặc dù tôi sẽ nỗ lực tối đa, với tất cả thiện chí. Bởi vì cậu phải có, không chỉ một hình ảnh về cái chúng ta đang nói tới, mà là tự thân cái thực hữu ít ra là như tôi quan niệm. Nó có thực là như thế hay không chưa phải là vấn đề; điều phải khẳng định là có một cái gì đó tương tự tồn tại, cậu đồng ý không nào?

GLAUKŌN: Có thể khẳng định như thế.

SŌKRATĒS: Và chỉ có sức mạnh của đối thoại biện chứng mới có thể phát hiện nó cho một trí tuệ đã thành thạo trong các khoa học được đề cập, chứ không có phương pháp nào khác.

GLAUKŌN: Cứ cho là như thế nữa đi.

SŌKRATĒS: Ít nhất có một điểm không ai có thể tranh cãi, là ngoài các môn học ta đã lướt qua, còn có một phương pháp khác tìm cách đạt tới thực hữu và bản chất của mỗi sự vật, bằng một con đường chính xác. Bởi vì hầu hết các kỹ thuật* chỉ quan tâm đến quan điểm và ham muốn của người đời, tới sản xuất và chế tạo, thậm chí chỉ giới hạn vào việc bảo trì những sự vật tự nhiên và sản phẩm chế biến. Còn các khoa toán học[34], [533b] chẳng hạn như hình học và các ngành đi kèm, ta đã nói rằng chúng có một quan hệ nào đấy với thực hữu; nhưng chúng chỉ mơ tưởng về nó, chứ không thể nhìn thấy hữu thể bằng cái nhìn rõ ràng và chắc chắn của sự tỉnh táo, chừng nào chúng còn nhìn hiện thực trong cái vòng của dữ liệu vật chất, và thứ giả thuyết sử dụng không phê phán vì không thể lý giải được. [533c] Thật vậy, khi các nguyên tắc được rút ra không biết từ đâu, khi kết luận và các bước trung gian chỉ được xây dựng từ các nguyên tắc tương tự, thì làm sao một mạng lưới quy ước như vậy có thể tạo nên một khoa học?

GLAUKŌN : Không thể nào !

SŌKRATĒS: Do đó, chỉ có phương pháp biện chứng, khi nó gạt bỏ các giả thuyết, là đi thẳng vào nguyên lý, để thiết lập nguyên lý ấy một cách vững chắc[35]; chỉ có biện chứng pháp [533d] mới dần dần kéo con mắt tinh thần ra khỏi vũng lầy mà nó đang lún sâu vào một cách đáng xấu hổ, nhằm nâng nó lên, thông qua chức năng và với sự hỗ trợ của các khoa học chúng ta vừa nói tới đấy. Ta đã quen gọi chúng là khoa học cho phù hợp với thông lệ; lẽ ra ta nên đặt cho chúng một cái tên khác, nằm đâu đó giữa sự mơ hồ của ý kiến ​​và bằng chứng của khoa học, như ta đã từng gọi ở trên kia là tư duy suy lý[36]. Dù sao, vấn đề không phải là tranh cãi về tên gọi, [533e] khi dường như chúng ta còn có những đề tài quan trọng hơn phải xem xét.

GLAUKŌN: Đúng. Ta phải dùng trí tuệ để làm sáng tỏ những từ chúng ta sử dụng chứ.

SŌKRATĒS: Vậy thì, như trước đây, chúng ta hãy tạm thỏa mãn với bốn loại hình hiểu biết. Hãy gọi là khoa học (epistēmē) cái đầu tiên và hoàn hảo nhất, là tư duy suy lý (dianoia) cái thứ hai, là tin tưởng (pistis) cái thứ ba, là phỏng đoán (eikasia) cái thứ tư[37]. Hai loại hình đầu liên quan tới hữu thể và thuộc về lý trí, hai loại hình sau liên quan tới cái biến dịch và thuộc về ý kiến; do đó, tỷ lệ giữa cái tồn tại thường hằng và cái hũu sinh hữu tử, được tìm thấy lại giữa lý trí và ý kiến, giữa khoa học và tin tưởng, giữa tư duy suy lý và phỏng đoán.

GLAUKŌN: Hữu thể so với biến dịch là như thế nào, thì trí tuệ thuần túy so với ý kiến là như thế nấy.

SŌKRATĒS: Nhưng Glaukōn ơi, hãy gác quan hệ giữa hai trật tự này—trật tự của ý kiến ​​và trật tự của lý trí — cũng như những chi tiết về sự phân chia bên trong mỗi trật tự sang bên, nếu ta không muốn lao vào những tranh cãi còn dài hơn nhiều lần các cuộc thảo luận chúng ta vừa ra thoát nữa.

GLAUKŌN: Về những gì ông vừa nói và trong chừng mức tôi có thể hiểu được, [534b] thì đồng ý với ông thôi, Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS: Há cậu không gọi người giải thích được bản chất của mỗi sự vật là nhà biện chứng, và không xem kẻ không thể nói gị về nó, cho chính bản thân mình hoặc cho người khác, là kẻ bất trí* ư?

GLAUKŌN: Đâu thể nói khác được !

SŌKRATĒS: Về cái Tốt* cũng vậy thôi. Cho tới khi một người có thể tách rời ý niệm cái Tốt ra khỏi các ý niệm khác, để đưa ra một định nghĩa chính xác về nó; và trừ phi anh ta chứng minh được nó, không phải dựa trên ý kiến mà thông qua hiện thực, nghĩa là trừ phi anh ta có thể vượt qua bằng sức mạnh của lý luận mọi trở ngại và phản biện [534c]; cậu sẽ nói về người này: rằng anh ta không biết cái Tốt* tự thân, cũng như bất kỳ điều tốt nào khác từ bản chất; rằng nếu anh ta nắm bắt được một bóng ma nào đó của cái Tốt, thì đấy chỉ là một ngoại hiện, sản phẩm của ý kiến chứ không phải của khoa học; rằng cuộc đời anh ta trôi qua như lịm sâu trong một giấc ngủ đầy mộng mị phù phiếm để rồi có lẽ sẽ không bao giờ tỉnh thức ở thế giới này, [534d] trước khi bước sang cõi tĩnh lặng bên kia trong một giấc ngủ mãi mãi?

GLAUKŌN: Vâng, đúng là tôi phải nói tất cả những điều như thế.

SŌKRATĒS: Nhưng nếu một ngày nào đó, cậu phải đào tạo học viên cho Nhà nước lý tưởng này, đào tạo thực sự chứ không phải chỉ là nói suông bằng lời nữa, hẳn cậu sẽ không đưa họ lên đứng đầu Nhà nước, sẽ không trao cho họ quyền lực lớn, nếu họ không có năng lực trí tuệ[38] tương ứng với uy quyền trên những vấn đề quan trọng nhất, phải không?

GLAUKŌN: Chắc chắn là không.

SŌKRATĒS: Như vậy, cậu sẽ ban hành một đạo luật buộc họ phải đặc biệt chú trọng vào cái khoa học khiến họ đạt được thứ kỹ năng hỏi - đáp [534e] uyên bác nhất có thể này chứ?

GLAUKŌN: Vâng, chúng ta sẽ cùng ban nghị quyết như vậy.

SŌKRATĒS: Nghĩa là cậu cũng đồng ý rằng khoa biện chứng là cái vòm, cái đỉnh của các khoa học khác — có thể nói như vậy, rằng không còn khoa học nào có thể được thêm vào bên trên nó nữa, rằng chúng ta đã đi tới hồi kết của quá trình nghiên cứu về các khoa học cần phải đưa vào chương trình.

GLAUKŌN: [535a] Rõ ràng.

Platōn,

Republic = République (khg 387-370),

VII, 521d-534e

(Xem tiếp phần II)

 

 

[1] Khi có thể tham khảo, xem trên trang muc Huyền Thoại và Ẩn Dụ: Platōn, Thần Thoại Và Dối Trá, ct 3.

[2] ... «Ở bất cứ nơi nào ta thấy (521a) rằng tình trạng của những người được dự định cho việc nắm quyền lực là đáng ưa chuộng hơn bản thân quyền lực, thì một chính phủ tốt mới có thể được thiết lập; bởi vì trong tình huống này, chỉ những người thực sự giàu có, không phải về vàng bạc mà về trí tuệ và đức hạnh sự giàu có duy nhất của người hạnh phúc mới có thể cai trị. Trái lại, ở bất cứ nơi đâu người ta thấy những kẻ ăn xin, kẻ đói khát những của cải mà họ không có, đổ xô vào lĩnh vực công cộng, bởi vì họ tưởng tượng rằng đây chính là nơi họ phải xông vào để có được chúng, thì sẽ không bao giờ có thể có một chính phủ tốt. Quyền lực trở thành con mồi cho sự tranh giành; và cuộc nội chiến ruột thịt này sẽ kết thúc trong sự tiêu vong của vừa những kẻ tranh giành quyền lực nhà nước, vừa chính bản thân Nhà Nước».

[3] Dịch theo bản tiếng Anh: «the turning over of an oyster-shell». Quy chiếu về một trò chơi đương thời của trẻ con. Một đứa tung mảnh vỏ con hào (hàu) lên không, tùy theo khi rơi xuống, mặt trong (ngửa) hay mặt ngoài (sấp) của mảnh vỏ quay lên trên mà một bên được trốn hay chạy, bên kia phải đi tìm hay đuổi bắt.

[4] Trong nguyên bản: Soul hay Âme = Linh hồn. Platōn cho rằng linh hồn có 3 phần (bộ phận hay chức năng): phần lý trí = logos, phần nhiệt tâm = thumos, và phần dục vọng = epithumia (Republic, 434d-445e). Do đó, tuỳ bối cảnh, chúng tôi sẽ dịch soul (âme) hoặc theo nghĩa rộng là linh hồn, hoặc theo nghĩa hẹp là tinh thần hay trí tuệ.

[5] Theo Platōn, nội dung của giáo dục không nằm ở việc đưa hay đưa thêm một thứ hiểu biết (một môn học) vào trí tuệ, mà ở một sự «cải đạo», từ thế giới biến dịch lên cõi của hữu thể (Xem chú thích 11 bên dưới). Từ «periagōgē» mà Platōn dùng chỉ một tiến trình tái định hướng tinh thần, thứ hành động khiến trí tuệ quay từ thế giới cảm quan lên thế giới khả tri, từ cảnh tối tăm ra ánh sáng chân lý, từ sự ngu dốt lên tri thức thực sự. Xem thêm trên trang mục Huyền Thoại Và Ẩn Dụ khi có thể tham khảo: Platōn, Ẩn Dụ Những Người Sống Trong Hang Tối. Mặt khác, mọi môn học đểu chỉ là những hiểu biết chuẩn bị cho khoa biện chứng (triết học), khoa học duy nhất có khả năng đưa ta đến với thực thể và chân lý [531d-535a].

[6] Nền giáo dục truyền thống của Hy Lạp đương thời gồm có hai phần chính là thể dục (gymnastikē) và văn hoá (mousikē). Vì thân thể là vật có sinh thành, tăng trưởng, suy thoái và hủy diệt, nên thể dục – lĩnh vực liên quan – được xem là thuộc thế giới biến dịch. Văn hóa, tuy nó có thể mang lại cho ta một số phẩm chất cao quý (sự tinh tế, đẹp đẽ, hài hòa, nhịp nhàng... được xem là cao quý hơn các tính chất trái ngược), cũng chỉ thuộc về thế giới biến dịch, bởi vì nó không giúp ta vươn lên thế giới khả tri, hiểu biết về hữu thể* và chân lý. Xem thêm, trong phần Triết Học hay mục Giáo Dục, các bài hữu quan khác, khi có thể tham khảo.

[7] Khi có thể tham khảo, xem trên trang mục Huyền Thoại & Ẩn Dụ: Platōn, Thần Thoại & Dối Trá, ct 8.

 

[8] Các ngành kỹ thuật bị xem là thấp kém vì chúng là thứ hiểu biết của tầng lớp lao động, thánh phần xã hội thấp nhất (dưới tầng lớp chiến binh và tầng lớp giám hộ*). Trong thành quốc mẫu mực tương lai, Platōn muốn thành phần giám hộ phải được trút bỏ gánh nặng của mọi hoạt động vật chất (nông, tiểu công, thương nghiệp), tuy thiết yếu cho đời sống cộng đồng và cơ thể, nhưng không xứng đáng với hoạt động của những con người tự do mà quan tâm chính phải là trật tự hài hòa của thành quốc, và sức khoẻ tinh thần của mọi công dân.

[9] Đối tượng của mỗi kỹ thuật là một lĩnh vực trong thế giới cảm quan; đối tượng của mỗi khoa học là một lĩnh vực trong thế giới khả tri [xem 529b-c). Như được liệt kê ở đoạn sau [xem 533a], phần kỹ thuật bao gồm các nhóm: kỹ thuật tiêu khiển, kỹ thuật sản xuất và chế biến, kỹ thuật chăm sóc (Xem thêm về các nhóm kỹ thuật ở Gorgias, 463b, 501a; Stateman, 261-275e; Sophist, 222e). Các khoa học được biết tới đương thời đều được phân tích ít nhiều trong suốt trích đoạn dịch đăng ở đây.

[10] Người Hy Lạp xưa phân biệt khoa học về tính toán (logismos – logistikē) với khoa học về con số (arithmos – arithmētikē), cái trước là phần sơ khai và sơ đẳng của cái sau. Ở đây, sự tính toán và số học can thiệp vào nhận thức, phân biệt một với hai, với ba, phân biệt một phẩm chất với một phẩm chất khác,... trong khi cảm giác khiến ta cảm nhận lẫn lộn như một, các phẩm chất khác nhau từ nhiều sự vật khác biệt, như được mô tả bên dưới [523e-524c].

[11] Trong thần thoại Hy Lạp, Palamēdēs là nhân vật đã phát minh ra con số, chữ viết và nhiều trò chơi may rủi cổ đại (tên Palamēdēs đến từ palamē, gan bàn tay, biểu trưng bàn tay chế biến, sáng tạo). Trong bối cảnh cuộc chiến thành Troia, Agamemnōn là thống tướng và Palamēdēs là chiến tướng bên phía Hy Lạp; ở đây, Palamēdēs xuất hiện trong nhiều bi kịch của cả ba kịch tác gia lớn là Aiskhulos, Euripidēs, và Sophoklēs; nhưng do phần lớn các vở kịch liên quan đều đã mất, giới học giả không tìm được cho phát biểu trên trong tác phẩm của Platōn một quy chiếu chính xác nào.

[12] Being (trái với becoming), Être (trái với devenir) = Hữu thể bất biến, vĩnh hằng (trái với cái có sinh, có tử), còn có thể gọi và dịch là Thực thể hay Thực hữu. Xem thêm trên trang muc Triết Học – Cổ Đại khi có thể tham khảo: Platōn, Hai Mô Hình Về Hiện Hữu & Ý (Mô) Thể Và Bản Sao.

[13] Glaukōn nghỉ tới trường hợp của những sai lầm quen thuộc và dễ điều chỉnh do ảo giác; trong khi Sōkratēs nói về tính nước đôi không thể tránh của loại bằng chứng từ giác quan: cùng một vật thể có thể xuất hiện khác biệt cho hai người quan sát khác nhau, thậm chí cho cùng một người tuỳ theo nơi nhìn vào, vị trí nhìn, tâm thế. Nhưng nếu một vật có thể là vừa to, vừa nhỏ, vừa nặng, vừa nhẹ, vừa đẹp, vừa xấu, thì thế nào là to, nhỏ, nặng, nhẹ, đẹp, xấu?... Ngôn từ hàng ngày không còn ý nghĩa gì nữa. Do đó, triết gia phải nỗ lực nghĩ suy về bản chất của to, nhỏ, nặng, nhẹ, đẹp, xấu..., ngoài những sự vật tồn tại mang các thuộc tính này, tức là về tự thân các ý niệm to, nhỏ, nặng, nhẹ, đẹp, xấu... mà Platōn gọi là các Ý thể (Ideas = Idées) hay Mô thể (Forms = Formes) này.

[14] Tiềm ẩn trong lối cật vấn kẻ đối thoại của Sōkratēs, «bối rối là khởi điểm của triết học» được công khai phát biểu ở đây một cách xác quyết. Chính sự bối rối của tinh thần trước những bất định và không chính xác của loại chứng cớ cảm quan đã buộc tinh thần phải quan niệm hiện thực của sự vật bằng chỉ trí tuệ mà thôi. Đối chiếu với một quan điểm phổ biến khác: «triết học bắt đầu từ sự tò mò».

[15] Như khi ta nhìn, cùng một lúc, các sự vật trong tương quan lớn nhỏ với nhau, hoặc nhìn nhiều bộ phận (hay phẩm chất) của cùng một vật thể, mà chỉ dựa trên thị giác thuần túy chứ không nhờ tới sự phân biệt hỗ trợ của lý trí [524c-525b]

[16] Đặc trưng của một Ý (Mô) thể — ở đây, Đơn vị — là tính đơn nhất, tính không có mâu thuẫn của nó, trái ngược với những sự vật thuộc thế giới cảm giác luôn luôn có nhiều mặt. Từ ý niệm đơn vị, ta có thể phân biệt thêm ý niệm bản số (cardinal number, các con số một, hai, ba... tự thân = các tập hợp có một, hai, ba đơn vị); từ bản số ta có thể phân biệt thêm những bộ số (như bộ đơn = monad = monade, bộ đôi = dyad = dyade, bộ ba = triad = triade)... là các tập hợp mỗi thứ có một, hai, ba... sự vật có thể trông thấy, sờ mó, đã được đánh số hay đếm (con chó, cây táo, viên gạch,...). Và khi nghiên cứu số học, nhà toán học chỉ quan tâm đến các bản số nhằm tìm hiểu bản chất và những thuộc tính của chúng, bỏ qua những sự vật được chúng đánh số hay đếm.

[17] Phân chia là để trí tuệ biến mất trong vô tận, thay vì nâng nó lên ý niệm đơn vị và ý niệm về một thực thể đơn giản và hữu hạn như ý niệm bản số (để có thể phân biệt nó với một bản số khác), và hơn thế nũa, như ý niệm Ý thể (Mô thể) mà khoa số học muốn trí tuệ của triết gia vươn tới.

[18] «Chúng ở đâu, những đơn vị hoàn toàn bình đẳng, bất biến và không thể phân chia»? Platōn cho rằng chúng «» thế giới khả tri, cùng với những cái khả niệm (Ý thể hay Mô thể) khác, nhưng lại hầu như luôn luôn tránh phát biêu về «nơi (chốn)» đó bằng thứ ngôn từ có tính cách định vị trong không gian ở các đối thoại lớn trong thời lập thuyết chính của ông (385-370). Trong Republic (République) sự phân định thế giới khả tri với thế giới cảm quan được thể hiện qua ngôn ngữ trật tự (cấp bậc) trên/dưới: cái khả niệm đứng trên (above, beyond) cái trông thấy, cái Tốt đứng trên cái hiện là; ở đây từ «trên» mang tính nhận thức, bản chất, chứ không mang tính không gian; đồng thời, sự thoát ly ra khỏi hang đá trong ẩn dụ Những Người Sống Trong Hang Tối phải được hiểu là sự kiện từ thế giới cảm quan vươn lên thế giới khả tri vậy [509d–511e; 514a–517b]. Trong Phaedo (Phédon), sự phân biệt các Ý (Mô) thể với những sự vật trong đời thường (các bản sao) được xác định thông qua thứ ngôn ngữ phẩm (bản) chất: các vật thể là hữu hình, luôn luôn biến đổi, chuyển dịch, tiếp xúc được bằng giác quan; ngược lại, các Ý (Mô) Thể là vô hình, bất biến, phi vật chất – vì vậy, không thể nào định vị được trong không gian [79a–84b]. Chỉ trong Phaedrus (Phèdre), Platōn mới dùng từ «topos» khi nói rằng thế giới khả tri là «chốn» bên kia cõi trời (huperouranios topos = place beyond the heavens), «nơi» tinh thần ta chiêm ngưỡng Hiểu Biết, Công Lý, Dũng Cảm, Tiết Độ tự thân, Hữu Thể thực hữu (ousía óntōs oũsa = Being that truly is), nhưng ông cũng đã thận trọng đóng khung nó trong loại ký sự huyền thoại chứ không phải vũ trụ học [247c–e]. Tóm lại, trong ngữ cảnh thế giới khả tri, giới học giả đời sau đều hiểu rằng các từ như «ở, nơi, chốn» của Platōn đều thuộc loại ngôn từ tượng hình, biểu trưng, hơn là vật lý, hiện thực.

[19] Trong tiếng Hy Lạp, agathos là tính từ được dùng để chỉ hoặc cái đáng được ca ngợi (epainetos), hoặc cái đáng được trân trọng (timios), và to agathon là danh từ chỉ cái mà sự sở hữu mang lại cho ta hạnh phúc (eudaimonia), cái vốn là cứu cánh tối hậu mà mọi người đều theo đuổi. Trong triết học Hy Lạp, Pythagoras là người đầu tiên đặt to Agathon (Cái Tốt) ở đỉnh cao nhất trên bậc thang hữu thể, mở ra truyền thống xem Cái Tốt như một nguyên lý siêu hình – giá trị nguyên thủy, linh thiêng, hoàn hảo, tuyệt đối. Ở đây, ta thấy ảnh hưởng của Pythagoras trên Platōn: cái Tốt là Mô thể cao nhất, nền tảng của mọi Ý thể khác (cái Đúng, cái Lành, cái Đẹp), của hiện thực và vạn vật; cái Tốt tương ứng với Mặt Trời của thế giới cảm quan trong ngôn ngữ ẩn dụ, với Thượng Đế trong các tôn giáo hữu thần. Tuy nhiên, trong thử thách quan niệm thành quốc lý tưởng này của Platōn vẫn đậm đà bóng dáng Sōkratēs: nơi con người cũng có cái Tốt cho linh hồn (hiểu biết, công chính, dũng đảm, tiết độ), và cái Tốt cho thân xác (sức khoẻ, sự giàu sang, danh dự), được xác định theo một trật tự trên dưới rõ rệt. Xem thêm trên trang mục Triết Học - Cổ Đại, khi có thể tham khảo: Luc Brisson & Jean-François Pradeau, Cái Tốt Theo Platōn.

[20] Hình học tự nó đã là một phát minh và là cơ sở cho nhiều phát minh toán học khác, bao gồm hình học giải tích, hình học đại số, và các phép toán vi tich phân chẳng hạn. Trong hính học, các định lý đều là những khám phá; và trong số này cái nổi tiếng nhất cổ đại, vì đã gây bối rối nhất cho các nhà toán học đương thời là định lý Pythagoras (a2 + b2 = c2), theo đó khi một tam giác có hai cạnh kề (a, b) bằng một, thì cạnh huyền (c) của nó sẽ có độ dài bằng căn bậc hai của hai (√2), không thể biểu diễn dưới dạng một phân số đơn giản của các số nguyên, mà có vô số số thập phân. Khám phá này được truyền thống gán cho Hippasos xứ Metapontum, một học trò của Pythagoras; vì nó đã thách thức niềm tin của giáo phái vào một thế giới thần số, nên ban đầu những môn đồ khác của giáo phái đã phẫn nộ tới mức họ toan ném Hippasos xuống biển, còn chính Pythagoras cũng cho rằng đây là điều «không thể nói ra». Nhưng chính nhờ khám phá hình học này mà nay ta đều biết rằng số thực có hai loại là hữu tỷ và vô tỷ (xem thêm các mục từ liên quan trên Wikipedia).

[21] Nhà hình học tiết lộ, tức là chỉ ra, những quan hệ vĩnh cửu của trật tự và sự hài hòa, và vượt lên trên chúng, sức mạnh thiêng liêng của Cái Tốt (xem ct 19 ở trên). Trong Timaeus, Hoá Công đã tạo ra thế giới hữu hình bằng cách chiêm nghiệm những Ý (Mô) thể, nghĩa là đã tạo ra nó như một nhà hình học. Xem trên trang mục Vật Lý & Hoá Học khi có thể tham khảo: Platōn, Vật Chất» & Không Gian và Luc Brisson, Jean-François Pradeau, Hoá Công & Khōra.

[22] Ở đây, «hình học» chỉ môn học chúng ta gọi là hình học phẳng (phát triển từ một điểm), còn hình học của «cái có ba chiều» hay «khối tích», hay để nói chính xác hơn nữa, hình học của các khối rắn, chỉ môn học ngày nay ta gọi là hình học trong không gian (phát triển từ mặt phẳng), mà giới toán học Hy Lạp cổ đại chỉ vừa mới bắt đầu nghiên cứu. Trong Timaeus, Platōn cũng từng đề cập tới hình học của các khối đa diện đều.

[23] Đối với Platōn, thiên vản học không phải là một khoa học quan sát. Những hiện tượng nhìn thấy trên bầu trời chỉ là cơ hội để ta đặt vấn đề, tìm kiếm các mô hình toán học có khả năng giải thích tất cả những gì ta trông thấy từ Trái Đất. Nghĩa là ông cũng giả định sự tồn tại của một bầu trời, và những thiên thể có vận tốc chuyển động, số lượng, hình dạng lý tưởng, chỉ có thể tiếp cận bằng trí tuệ - một khoa thiên vản toán học giống như ở các nhà thiên văn Hy Lạp đương thời. Màt khác, toàn bộ đoạn lý luận này cho thấy sự quen thuộc và gắn bó của Platōn với các mô hình vũ trụ học cùng loại. Xem ct 26 ở dười, và trên trang mục Vật Lý & Hóa Học những bài liên quan của J. A. Coleman và các tác giả khác.

[24] Daidalos được xem là hậu duệ của thần Hēphaistos*, và là điển hình xuất sắc của tài sáng chế và nghề điêu khắc trong thần thoại Minōa* và Mykēnai*. Theo truyền tụng, Daidalos làm được cả những pho tượng «có động tác». Rất nhiều tác phẩm của Daidalos được nói đến trong thần thoại Hy Lạp, nổi tiếng nhất là con bò gỗ làm cho Pasiphaē* (vợ vua Mínōs* xứ Krētē*), mê cung trong đó con Minōtauros* bị Mínōs giam giữ, dây chuyền của Harmonia*, và người đàn bà máy Pandōra*. Daidalos được thờ như ông tổ của nghề đẽo và khắc trên đá.

[25] Xem trên trang mục Vật Lý & Hoá Học khi có thể tham khảo: Platōn, «Vật Chất» & «Không Gian» Luc Brisson & Jean-François Pradeau, Hoá Công & Khōra.

[26] Quan điểm này về sau được gọi là «cứu giữ hiện tượng (sōzein ta phainomena = to save the phenomenon = sauver le phénomène)», một tiền thân của chủ nghĩa thực chứng kiểu Auguste Comte: mục đích của thiên văn học chỉ là cung cấp các mô hình toán học có khả năng mô tả những hiện tượng thiên văn như ta thấy, chứ không nhằm giải thích những chuyển động của các thiên thể như chúng thực sự diễn ra. Khi có thể tham khảo, xem trên trang mục Lịch Sử Khoa Học: Andreas Osiander, Cứu Giữ Hiện Tượng và trên trang mục Vật Lý & Hoá Học một bài cùng tên của Charles Duhem.

[27] Đối với Pythagoras và môn đồ*, số là cấu trúc, là bản chất của hiện thực, và ý nghĩa quan trọng của âm nhạc là nó làm cho chân lý này trở nên nghe và thấy được. Một mặt, họ tin rằng mỗi sự vật trong vũ trụ đều có thể được hiểu thông qua tương quan với một con số. Ở đây, các số quan trọng nhất là 1 (đơn vị, nguồn gốc), 2 (cặp đôi, đối lập), 3 (hài hòa, cân bằng), 4 (ổn định, trật tự), và 10 (hoàn hảo). Mặt khác, dùng thứ đàn một dây cổ (một dây rung căng giữa hai mảnh gỗ); khi gảy dây đan tại một vị trí nào đấy, dây sẽ gây ra một tần số sóng, tạo nên một nốt nhạc. Họ nhận thấy rằng khi gảy một nốt nhạc lần lượt ở các vị trí 1/2, 2/3, rồi 3/4 chiều dài của dây, họ cũng sẽ lần lượt đưa được cao độ của nốt nhạc lên các tỷ lệ 2/1, 3/2, 4/3 so với cao độ khi gảy trên toàn dây đàn. Đây là các tần số sóng tạo ra các âm thanh hài hòa nhất trên thang âm. Và theo họ, những tỷ số nhỏ, đơn giản, và số nguyên này phản ánh toàn bộ trật tự của vũ trụ, chứ không chỉ đơn thuần là sự dễ chịu cho thính giác về mặt hòa âm; chúng giúp họ khẳng định thêm lần nữa tin tưởng rằng sự hài hòa (sự ăn khớp, trật tự) phát sinh từ các tỷ lệ số học đơn giản. Như vậy, theo nghĩa chặt chẽ của trường phái, số hài hòa là những con số có tỷ lệ hữu tỷ đơn giản, đặc biệt là những tỷ số tạo ra các quãng hòa âm (consonant musical intervals – xem thêm muc từ Quãng trên Wikipedia) gọi là các quãng tám, quãng năm, quãng tư nói ở trên. Ngược lại, Một tỷ số được gọi là không hài hòa nếu: nó không tương ứng với một quãng hòa âm, không thể được biểu diễn dưới dạng tỷ số nguyên đơn giản, hoặc tạo ra sự không hài hòa về thính giác (ví dụ: 9/8, 16/15, √2/1 hay bất kỳ tỉ số vô tỷ nào). Những tỷ số này không chỉ khó nghe về mặt âm nhạc mà còn là một cú sốc về mặt siêu hình học cho trường phái – bởi vì sự phát hiện ra rằng √2 không thể được biểu thị dưới dạng tỷ lệ của các số nguyên có nghĩa là một số đại lượng là vô tỷ, chứ không phải mọi thực tại đều phù hợp với những tỷ số hài hòa (xem ct 20 ở trên). Tóm lại, đối với Pythagoras và môn đồ : số hài hòa = trật tự, vũ trụ (cái được tổ chức), khả năng hiểu biết; đại lượng không hài hòa = sự hỗn loạn, vô trật tự, không xác định (apeiron). (Khi có thể tham khảo, xem thêm trên các trang mục khoa học liên quan các bài về quan điểm vũ trụ học và toán học của giáo phái.)

Hài hòa

Không hài hòa

Tỷ lệ số nguyên

Tỷ lệ phức hoặc vô tỷ

Hòa âm trong âm nhạc

Bất hòa âm trong âm nhạc

Tỷ lệ và sự cân bằng

Thừa hoặc thiếu

Vũ trụ

Hỗn loạn

Giới hạn (peras)

Vô hạn (apeiron)

Ở đây, khi cho rằng Pythagoras và môn đồ chỉ tự giới hạn vào lĩnh vực âm học, Platōn đã quá khe khắt. Họ thật ra là các nhà thần số học.

[28] Nghĩa là, như được diễn giải trong suốt đoạn này [531d-532e], chỉ khi nào ta đạt tới một cái nhìn toàn diện và có hệ thống (khoa biện chứng hay triết học, xem ct 29). Các nhà số học, hình học, thiên văn, âm nhạc... đều có khả nảng lý luận trong khuôn khổ của mỗi chuyên khoa, điều họ thiếu sót là khả nảng lý giải bằng luận cứ mọi vấn đề. Chính vì vậy mà mọi chuyên khoa chỉ là các môn học dự bị, các «khúc dạo đầu» cho khoa biện chứng. Chỉ có Triết gia, vì phải nhắm tới toàn bộ chân lý, mới vượt lên trên mọi giả thuyết chuyên biệt, nhằm đạt tới cái nguyên lý phi giả thuyết của mọi hiện hữu là Cái Tốt (xem ct 19 ở trên). «Và phải chăng ta có thể nói rằng triết gia là người yêu, không chỉ một bộ phận (khoa học) mà toàn bộ hiểu biết? (Republic, V, 475b).

[29] Việc dịch dialektikē sang tiếng Việt trên trang mạng này là khá uyển chuyển, dựa trên ngữ cảnh. Thứ nhất, dialektikē là một hình thức đối thoại, một tiến trình đặt câu hỏi và tìm giải đáp như ở dialektikos (xem ct 30 bên dưới), do đó nhiều khi chúng tôi dịch là đối thoại biện chứng, hầu làm sáng tỏ sự khác biệt về mục đích của dialektikē là nỗ lực truy tìm đến tận bản chất của sự vật, là sự truy tìm chân lý. Thứ hai, dialektikē là một cách lý luận, một phương pháp suy luận, do đó chúng tôi cũng dịch là suy luận biện chứng hay phương pháp biện chứng (biện chứng pháp) trong một số trường hợp. Cuối cùng, do trong sơ đồ các môn học dành cho tầng lớp giám hộ của Platōn, dialektikē là môn học kết thúc và tột đỉnh, nên cũng có khi chúng tôi dịch là khoa học biện chứng hay biện chứng học thực chất là triết học.

[30] Dialektikos, sn dialektikoi. Do ở đây Platōn chưa định nghĩa dialektikē, ta có thể hiểu dialektikoi chỉ những người xuất sắc trong nghệ thuật đối thoại, biết lập luận với những luận cứ hợp lý. Đối thoại biện chứng thực sự sẽ được định nghĩa bởi cứu cánh – truy tìm bản chất sự vật, truy tìm chân lý – của nó, và các nhà biện chứng chân chính sẽ là các triết gia, trong khi các chuyên gia đối thoại (và phần lớn các nhà khoa học) chỉ là những người thành thạo trong việc đặt câu hỏi và tìm ra câu trả lời. Tương quan giữa nghệ thuật vấn đáp và phương pháp biện chứng là cái đầu phải được hiểu như một hình thức thực tập cho cái sau, qua đó lý trí có khả năng, một cách thuần tuý trí thức, vươn tới sự nắm bắt những Ý (Mô) thể khả tri hay loại Hữu thể tự thân.

[31] Xem trên trang mục Huyền Thoại & Ẩn Dụ, khi có thể tham khảo: Platōn, Ẩn Dụ Những Người Sống Trong Hang Tối.

[32] Hành lang thoát ly từ hang tối ra với ánh sáng Mặt Trời cũng chính là con đường thực tập để tiến tới giai đoạn chót là khoa biện chứng, cái môn học nhắm trực tiếp đến đối tượng khả tri, thứ ánh sáng chân thực bên ngoài thế giới của hang tối.

[33] Ở Platōn, do thế giới tự nhiên là linh thiêng bởi sự tham dự của nó vào thế giới của các Ý (Mô) thể và Thần linh, nên một mặt, sự phản chiếu của Mặt Trời và ánh sáng của nó trên mặt nước trong thế giới tự nhiên cũng được xem là linh thiêng, và mặt khác, không cái gì trong thế giới của những vật ảo hay cái giả có thể đạt tới sự linh thiêng của thế giới tự nhiên cả.

[34] Nếu đối tượng của mỗi kỹ thuật là một lĩnh vực trong thế giới cảm quan, và của mỗi khoa học là một lĩnh vực trong thế giới khả tri, thì ở đây (533a-533e) Platōn còn phê phán khoa hình học và các ngành đi kèm trên 2 điểm: a) còn để cho giác quan can thiệp vào quá trình chứng minh («còn nhìn thực hữu trong cái vòng của dữ liệu vật chất» = còn minh hoạ các thực thể khả tri bằng các hình vẽ); b) còn đặt ra những «giả thuyết dùng không phê phán vì không thể lý giải được» (những định đề không thể chứng minh). Vì vậy, có thể nói chung rằng các khoa học dự bị chỉ đặt những hữu thể khả tri là hiện thực tự thân như giả thuyết, chứ không tìm đến bản chất nội tại của chúng (thông qua loại định nghĩa bản chất, xem ct 34 bên dưới); chỉ có khoa biện chứng mới quan tâm xác định bản chất nội tại của mỗi thực thể bằng cách giải phóng nó hoàn toàn khỏi thế giới cảm tính. Mặt khác, đây cũng là điểm Platōn phân biệt toán học với triết học (biện chứng học): triết học không thể chỉ dựa trên những nguyên tắc được chấp nhận đơn thuần, không thể tự bằng lòng với thứ chân lý dựa trên các giả thuyết đặt ra ngay từ bước đầu tiên (định đề) như nhà toán học, mà phải đưa ra lý do cho điều nó khẳng định, phải biết các giả thuyết đó đặt trên cái gì. Chẳng những không bị các nhà toán học đời sau vất bỏ, vấn đề này nay còn được họ (Leibniz, Frege, Russell, Hilbert ...) đổi mới, bằng nỗ lực tìm cho toán học ít ra là một nền tảng lô-gic, nếu không được là bản thể luận, nghĩa là nơi thực hữu, như Platōn trông đợi.

[35] Phương pháp biện chứng không rút những hiểu biết của nó về đối tượng ra từ các giả thuyết hoặc định đề, mà từ bản chất của đối tượng, thông qua sự nắm bắt điều cá biệt khiến cho một sự vật là như thế, cái phân biệt nó trong vô số sự vật như nó vốn luôn luôn là như thế, cái là câu trả lởi cho câu hỏi «đối tượng x ở đây là cái gì»? Sōkratēs và Platōn gọi nó là định nghĩa bản chất, một định nghĩa đạt được thông qua sự nhận biết cái Mô (Ý) thể khả tri mà đối tượng của cuộc điều tra tham dự vào (partake*, participer de*). Như vậy, biện chứng pháp thay giả thuyết bằng các luận điểm (thesis), sự nhận biết bản chất đối tượng được xúc tiến thông qua những thử thách suy luận mỗi lúc một sâu sát hơn vào cái Mô (Ý) thể khả tri của nó.

[36] Dianoia. Trong triết học Hy Lạp cổ đại, dianoia có nghĩa là «tư duy» hoặc « suy nghĩ» thường được hiểu là khả năng tư duy, suy luận, liên quan tới việc sử dụng lý luận và cách lập luận. Trong triết học của Platōn, dianoia thuộc cấp độ nhận thức thứ hai, sau nhận thức bằng trực giác (noesis), và trước khi đi lên thế giới của các ý tưởng (Ý thể hay Mô thể); nói cách khác, dianoia liên quan đến việc sử dụng những giả định và hình ảnh để đi tới hiểu biết, chưa phải là hiểu biết; dianoia chỉ thao tác trí tuệ thuộc thời kỳ xây dựng lý trí nhằm tiến tới khoa học, chưa phải là khoa học đích thực (epistēmē); dianoia tương ứng với tri thức toán học, epistēmē với tri thức triết học.

[37] Xem trên trang mục Nhận Thức & Tri Thức khi có thể tham khảo : Luc Brisson & Jean-François Pradeau, Tri Thức Theo Platōn.

[38] Trong các bản gốc: «thiếu lý tính như các đại lượng vô tỷ». Bởi vì các đường vô tỷ trong hình học (đường chéo √2 của hai cạnh một hình vuông, nếu mỗi cạnh là 1 chẳng hạn) được gọi là alogoi grammai, trong khi những kẻ không thể trải nghiệm một cuộc tranh luận biện chứng, bị cho là bất trí, thì gọi la alogoi. Mặt khác, sự so sánh này còn cho thấy sự hiện hữu của đại lượng vô tỷ là một phát hiện được biết tới rộng khắp, và từng gây nhiều bối rối trong các giới học thuật ở Hy Lạp đương thời.

CHUYÊN TRANG CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU Nguyễn Văn Khoa