Từ khóa: Lịch sử – Sử học – Khoa học – Mô hình – Koyré (Alexandre), Trích đoạn
(1961) Tác giả : Alexandre Koyré* * Đã từ lâu, lịch sử mơ ước trở thành một khoa học. Và các nhà phương pháp luận đều tưởng rằng giấc mơ ấy đã ở trong tầm tay của họ, khi sử học vừa bắt đầu tự giải thoát khỏi cái sơ đồ thần học của thứ lịch sử phổ quát. Lời phê phán của Pierre Bayle[1] đã chẳng từng là khuyến dụ, rằng các sử gia phải không tự thấy mình trước hết «là người Pháp hoặc người Anh» đó hay sao? Với điều kiện là sự vô tư[2] này được tôn trọng – điều thoạt nhìn có vẻ như chỉ là một vấn đề ý chí – tính khách quan của nhà sử học dường như đã được bảo đảm. Thế nhưng tính khoa học của lịch sử không chỉ giới hạn vào tâm thế này. Thật vậy, đối tượng của lịch sử mang những đặc tính khiến sử học là riêng biệt. Cụ thể, sử học phải luôn luôn được thiết lập – văn bản dưới đây[3] đặt dấu nhấn trên khía cạnh này. Sau đó, chính các điều kiện của lịch sử đã ngăn cấm mọi cầu viện đến một thử nghiệm xác minh. Như vậy, sử học không tuân theo các tiêu chí được Karl R. Popper* đặt ra, theo đó chính cái đặc tính có thể bị chứng minh là sai (falsifiable), và cái sự kiện không-không thể (nghĩa là có thể) bị phủ nhận bởi thí nghiệm của một phát biểu, mới đúng là những tiêu chí không thể thoát khỏi để xác định tính khoa học của nó. Cuối cùng, tính khách quan của lịch sử không phải là điều hiển nhiên. Vấn đề này không trùng lặp với vấn đề vô tư; nhưng nó chất vấn các điều kiện cấu trúc của sự thực hành khoa ký sử. Bản chất đặc thù không thể đảo ngược của sự kiện lịch sử khiến cho sử học không phải là thứ khoa học ban bố các định luật (nomothétique) mà là thứ khoa học xác định cái cá biệt (idiographique, do từ Hy Lạp idios, cái thuộc sở hữu riêng biệt của một cá thể). Hơn nữa, nếu chúng ta theo dõi các phân tích của W. Dilthey[4] , thì thông hiểu (compréhension) là cái thao tác đã đưa một quá trình phân tích hoàn toàn khác với quá trình của các khoa học gọi là khoa học cứng nhập cuộc. Trong luận án của ông[5], Raymond Aron đã nghiên cứu tính phi khách quan của khoa sử học, qua đó đánh dấu giai đoạn thứ hai của sự giải hoặc lịch sử. Giai đoạn đầu tiên đã chứng kiến sự ly dị của lịch sử loài người với lịch sử của linh giới; tuy nhiên, cái phối cảnh về một ý nghĩa trọn vẹn, tổng thể vẫn chưa hề bị từ bỏ. Thế nên sự kiện tính khách quan – cái bảo đảm cho một ý nghĩa về tổng thể – bị đặt thành vấn đề đánh dấu một đoạn tuyệt mới. Tuy nhiên, sự phản tỉnh không chỉ giới hạn vào chọn lựa giữa khoa học và tưởng tượng. Sử học có những quy tắc biện minh riêng của nó. Chúng ta đã thấy việc thiết lập các tài liệu gốc được tiến hành trên mô hình của một phương pháp lý tính như thế nào. Sự viện dẫn các tài liệu, dù thuộc loại kinh thánh hay không, việc trình bày chúng cho cộng đồng sử gia, tất cả đều mang dấu ấn của khoa học, và lần này là dấu ấn chuyên biệt của sử học. Do đó, sử học được phân biệt với văn học, lĩnh vực mà quan hệ với hiện thực là hoàn toàn khác. Tuy vậy, sử học cũng không thể thoát khỏi một thứ chủ nghĩa duy danh[6] nào đấy, như Bayle đã chỉ ra, và như Paul Veyne* từng đảm nhận (xem Ta Viết Sử Như Thế Nào?). * Bài đóng góp3 tuyệt vời của ông Henry Guerlac[7] – nó vừa là một cái nhìn tổng quan đáng ngưỡng mộ về sự tiến hóa của lịch sử nói chung và lịch sử khoa học nói riêng, vừa là một phê phán về cách thức sự phát triển này được xúc tiến cho đến nay – đã đến đúng lúc 1 – Quá khứ và ký sự về quá khứ Thật vậy, sau khi đã dành bao thời gian và nỗ lực để thảo luận về các vấn đề cụ thể của lịch sử khoa học, quay trở lại với chính mình để tự «đặt vấn đề» trong danh nghĩa sử gia, như chúng ta đang làm, là điều sáng suốt. Như vậy, hãy tuân theo mệnh lệnh của ông Guerlac như thể là nó đến từ đền Delphoi, và hãy tự hỏi chính mình: «Lịch sử là gì?». Thuật từ này, như ông nhắc nhở chúng ta, chỉ áp dụng riêng cho lịch sử con người, cho quá khứ con người. Nhưng nó lại mang tính nước đôi; một mặt, nó chỉ toàn bộ những gì đã xảy ra trước chúng ta, nói cách khác, toàn thể những sự kiện và biến cố trong quá khứ – ta có thể gọi nó là «lịch sử khách quan» hay «thời sự đã qua»; và mặt khác, câu chuyện mà sử gia viết ra, câu chuyện mà quá khứ này là đối tượng. Quá khứ và ký sự về quá khứ (Res gestae et historia rerum gestarum). Thế nhưng quá khứ, trong danh nghĩa là cái đã qua, thì vĩnh viễn là cái chúng ta không thể với tới: nó đã biến mất, nó không còn nữa, chúng ta không thể chạm vào nó, và chỉ từ những di tích, dấu vết, tàn dư vẫn còn hiện diện của nó – những công trình, tượng đài, tài liệu đã may mắn thoát khỏi tác động phá hoại của thời gian và của con người – mà chúng ta cố gắng tạo dựng lại nó. Nhưng lịch sử khách quan – cái mà con người làm ra và trải nghiệm – có rất ít dính líu tới thứ lịch sử của sử gia; nó để lại những thứ vô giá trị cho anh ta, đồng thời hủy hoại không thương tiếc những tài liệu quan trọng nhất, những công trình đẹp đẽ nhất, những đền đài uy tín nhất. Những gì nó để lại hay đã để lại cho họ chỉ là những mẩu mảnh quá nhỏ so với những gì họ cần. Vì vậy, sự tạo dựng lại lịch sử luôn luôn là bấp bênh, thậm chí là bấp bênh gấp đôi... Một thứ khoa học mô phỏng nhỏ bé đáng thương, Renan* đã gọi sử học như vậy. Hơn nữa, nó luôn luôn là cục bộ. Sử gia không kể lại tất cả, ngay cả chỉ tất cả những gì anh ta biết hoặc có thể biết – làm sao anh có thể? Tristram Shandy[8] đã cho chúng ta thấy điều đó là không thể – mà chỉ những gì là quan trọng. Lịch sử của sử gia, cái historia rerum gestarum không chứa đựng mọi res gestae, mà chỉ những gì đáng được cứu khỏi lãng quên. Vì vậy, lịch sử của sử gia là hiệu ứng của một chọn lựa, thậm chí là một lựa chọn kép... Trước tiên, từ sự chọn lựa mà người đồng thời với những res gestae – những người, với tư cách là sử gia về hiện tại hoặc kẻ bảo tồn quá khứ, đã ghi chép trong các biên niên, văn bia và hồi ký của mình, những sự kiện hay biến cố đối với họ có vẻ là quan trọng, đáng được lưu giữ để truyền lại cho hậu thế; rồi từ sự lựa chọn lần nữa các văn bản có vẻ là đáng được sao chép và bảo lưu hơn cả đối với họ của những kẻ kế tục trực tiếp hay gián tiếp những người đồng thời nói trên; và cuối cùng từ sự chọn lựa của sử gia nào sau đó sử dụng những sử liệu mà anh kế thừa được ấy, và thường là anh ta không nhất trí với những người đồng thời kia hoặc kẻ đi trước anh về tầm quan trọng tương đối của những sự kiện hay biến cố, và về giá trị của các văn bản mà họ đã truyền tải hoặc không truyền tải cho anh ta. Nhưng anh ta chẳng thể làm gì được. Vì vậy, anh chỉ có nước than phiền: hoặc đã không hay biết gì về một tập hợp sự kiện nào đấy; hoặc về thời điểm xảy ra của một biến cố mà những người đương thời cho là không đáng kể, nhưng lại có vẻ như rất quan trọng đối với anh ta; hoặc đã không tham khảo được các văn bản đối với anh là cực kỳ quan trọng nhưng các tác giả đi trước đã không xét là đáng lưu giữ. Đấy là bởi vì sử gia phóng chiếu vào lịch sử những lợi ích, quan tâm, và bậc thang giá trị của thời đại của anh, và chính là dựa trên những ý tưởng ở thời đại của anh ta – và cả ý tưởng của riêng anh nữa – mà anh ta nỗ lực tạo dựng lại quá khứ. Chính vì lý do này mà sử học luôn luôn được đổi mới, và chẳng có gì thay đổi nhanh hơn là cái quá khứ bất biến. 2 - Sự tiến bộ của sử học suốt các thế kỷ XII-XIX Trong bản tóm tắt tuyệt đẹp về sự tiến hóa của lịch sử – lịch sử của các sử gia – ông Guerlac thu hút sự chú ý của chúng ta về sự mở rộng và đào sâu của ngành sử học trong Thời Hiện Đại, đặc biệt là từ thế kỷ thứ XVIII. Sự quan tâm tập trung vào các giai đoạn và lĩnh vực của cuộc sống trước đây chưa được biết, biết không rõ hay biết sai, hoặc bị bỏ quên: từ lịch sử chính trị và triều đại, nó bước sang lịch sử các dân tộc, các thể chế, lịch sử xã hội, kinh tế, tư tưởng, lịch sử các phong tục tập quán, các nền văn minh. Dưới ảnh hưởng của triết lý Khai Sáng, lịch sử trở thành lịch sử về «sự tiến bộ của tinh thần con người»: hãy nghĩ tới Condorcet* mà, kỳ lạ thay, Ông Guerlac đã quên nhắc tới. Do đó, điều bình thường là vào thế kỷ thứ XVIII, lịch sử các khoa học – lĩnh vực trong đó sự tiến bộ này là không thể chối cãi và thậm chí còn ngoạn mục – đã hình thành như một môn học độc lập. Hầu như đồng thời hoặc chỉ muộn hơn một chút, lịch sử trở thành phương thức giải thích phổ quát, chủ yếu là dưới ảnh hưởng của nền triết học Đức. Nó thậm chí còn chinh phục cả thế giới tự nhiên! Cái quy tắc: «quá khứ giải thích hiện tại» lan tới vũ trụ học, địa chất học, sinh học. Khái niệm tiến hóa trở thành một khái niệm chìa khóa, và sự kiện thế kỷ XIX được xướng danh như thế kỷ của lịch sử là hoàn toàn chính đáng. Về phần lịch sử theo nghĩa hẹp, lịch sử loài người, sự tiến bộ của nó trong thế kỷ XIX và XX đã và vẫn còn gây nhiều đảo lộn: việc giải mã các tử ngữ, những cuộc khai quật có hệ thống, v. v…, đã bổ sung thêm vào tri thức của ta về quá khứ nhiều thiên niên kỷ. Hỡi ôi, huy chương nào cũng có mặt trái của nó: được mở rộng hơn và trở nên phong phú hơn, lịch sử cũng tự chuyên môn hóa, tự phân mảnh ngày càng chi li hơn; chúng ta nay có nhiều mảng lịch sử đa tạp, cục bộ và đơn phương, về cái này hoặc nơi kia - thay vì lịch sử của nhân loại; những đường dệt riêng biệt, thay vì một tấm vải thống nhất; những bộ phận rời rạc, thay vì một sinh thể. 3 – Hai luận điểm về lịch sử khoa học của Henry Guerlac Chính sự chuyên môn hóa quá mức, và chủ nghĩa phân lập đối nghịch giữa các khu vực lịch sử lớn này mà ông Guerlac lấy làm đối tượng phê phán, nhằm vào «lịch sử» hay giới sử gia hiện đại, đặc biệt là lịch sử và các sử gia khoa học. Bởi vì, hơn bất cứ bộ phận nào khác, chính nó và chính họ đã phạm vào hai lỗi lầm lớn mà tôi vừa đề cập, chính nó và chính họ đã biểu thị thứ chủ nghĩa cô lập cao ngạo, đã giữ một thái độ trừu tượng đối với đồng nghiệp và khu vực lân cận. Không tính đến các điều kiện thực tế trong đó khoa học đã ra đời, sinh hoạt và phát triển, ông Guerlac đánh giá thái độ này là «duy tâm». Thật vậy: nếu từ Montucla* và Kastner*, Delambre* và Whewell*, lịch sử khoa học đã thực hiện được những bước tiến chói lọi, thông qua sự đổi mới quan niệm của ta về khoa học cổ đại, việc khám phá nền khoa học Babylon* rồi ngày nay là khoa học Trung Quốc, việc làm sống lại nền khoa học Trung Cổ và Ả Rập; nếu với Auguste Comte*, nó đã tìm cách sáp nhập – dù không thành công – vào lịch sử của nền văn minh, rồi với Duhem* và Brunschvicg*, liên kết với lịch sử triết học (bộ môn hầu như cũng «trừu tượng» như bản thân nó), thì dù sao đi nữa, và bất chấp Tannery* lịch sử khoa học vẫn còn là một môn học đứng bên lề, không kết nối được với lịch sử tổng quát hay lịch sử xã hội (ngay cả qua trung gian của lịch sử kỹ thuật và công nghệ). Chính như vậy mà đến lượt nó, bản thân lịch sử khoa học cũng bị giới sử gia theo nghĩa hẹp xem thường – có thể là một cách sai lầm, nhưng không phải là không có lý do hiển nhiên. Do đó, Ông Guerlac cho rằng, mặc dù trong thời gian gần đây, lịch sử khoa học đã kết nối với lịch sử tư tưởng chứ không chỉ với lịch sử triết học nữa, nó vẫn còn quá trừu tượng, quá «duy tâm». Ông nghĩ rằng nó cần phải vượt qua thứ chủ nghĩa duy tâm này, bằng cách ngừng tách những sự kiện mà nó mô tả ra khỏi bối cảnh lịch sử và xã hội của chúng, để ban cho chúng một hiện thực(-giả) riêng biệt và độc lập ; và điều đầu tiên là nó phải từ bỏ sự tách rời – tùy tiện và giả tạo – khoa học thuần túy với khoa học ứng dụng, lý thuyết với thực hành. Lịch sử khoa học phải nắm bắt lại sự thống nhất thực sự của hoạt động khoa học – tư duy thực hành và hành động có suy nghĩ – được liên kết trong quá trình phát triển của nó với các xã hội đã sinh ra nó và nuôi dưỡng – hoặc cản trở – sự phát triển của nó, và trên lịch sử của các xã hội này, đến lượt mình, nó cũng đã thực hiện một hành động. Chỉ bằng cách này, lịch sử khoa học mới có thể tránh được sự phân mảnh ngày càng đe dọa nó và tìm lại được – hoặc tìm thấy – sự thống nhất của nó. Là một lịch sử khoa học, chứ không phải là sự đặt sát sạt đơn thuần những mảng lịch sử chuyên biệt của các ngành khoa học – và kỹ thuật – khác nhau, cái này bên cạnh cái kia. 4 – Quan điểm của Alexandre Koyré Nhất trí tới một mức độ rất lớn với ông bạn Guerlac – hơn nữa, tôi còn nghĩ rằng tất cả chúng ta đều chia sẻ lời phê phán về sự chuyên môn hóa quá mức, với kết quả là sự phân mảnh trong lịch sử, của ông. Chúng ta đều biết, rằng tổng thể lớn hơn tổng các bộ phận, rằng một bộ sưu tập các chuyên khảo về lịch sử địa phương không tạo thành lịch sử của một quốc gia, rằng ngay cả lịch sử của một quốc gia cũng chỉ là bộ phận của một lịch sử tổng quát hơn – vì vậy mà nhiều nỗ lực gần đây đã lấy những tập hợp lớn hơn làm đối tượng, để thuật lại lịch sử của cả vùng Địa Trung Hải thay vì lịch sử riêng biệt của các quốc gian ven biển chẳng hạn, v. v... Chúng ta cũng đều biết rằng sự phân chia thành những hoạt động khác nhau của con người mà ta tạo ra, nhằm thành lập nhiều lĩnh vực riêng biệt, đối tượng của các lịch sử riêng biệt, là khá giả tạo, và trong hiện thực, chúng điều kiện hoá lẫn nhau, đan xen vào nhau và tạo thành một tổng thể. Nhưng phải làm gì bây giờ? Chúng ta không thể hiểu cái tổng thể mà không phân biệt các khía cạnh của nó, không phân tích nó thành các bộ phận[9]... sự tái tạo, việc tổng hợp diễn ra sau đó. Nếu quả thực nó có bao giờ xảy ra... điều không hề là phổ biến, nếu đánh giá qua những nỗ lực mới đây, nhằm lặp lại các kỳ tích của Burckhardt* và tặng chúng cho chúng ta dưới cái tên uy tín là lịch sử các nền văn minh... Những lịch sử đặt sít sao bên nhau không tạo thành lịch sử... Một lịch sử toán học, cộng một lịch sử thiên văn, cộng một lịch sử vật lý, một lịch sử hóa học và một lịch sử sinh học, không tạo thành một lịch sử khoa học, thậm chí cả một lịch sử các khoa học cũng không... Thật đáng tiếc, chắc chắn; càng đáng tiếc hơn nữa khi các khoa học ảnh hưởng lên nhau và dựa vào nhau. Ít nhất một phần nào. Một lần nữa, phải làm gì bây giờ? Chuyên môn hóa là cái giá phải trả cho sự tiến bộ, cho sự phong phú của vật liệu, cho sự gia tăng những hiểu biết ngày càng vượt trội khả năng con người của chúng ta. Vì vậy, chẳng ai có thể viết lịch sử của các khoa học, thậm chí là lịch của chỉ một ngành khoa học nữa... Ở đây, những nỗ lực mới nhất cũng đã chứng minh điều này quá rõ. Nhưng ở mọi khu vực, tình hình đều giống nhau; không ai có thể viết lịch sử của nhân loại, thậm chí lịch sử của Châu Âu, của các tôn giáo hoặc của nghệ thuật nữa. Cũng như ngày nay chẳng ai có thể tự phụ mình biết toán học, hoặc vật lý, hoặc hóa học, hoặc văn học nữa. Ở khắp nơi, chúng ta bị tràn ngập. Đây là một vấn đề lớn – thừa thãi quá độ, chuyên môn hóa quá mức. Nhưng nó không chỉ là vấn đề riêng cho chúng ta. Về phần mình, tôi thực sự không biết giải pháp nào. Bây giờ, hãy đến với lời phê phán thứ hai mà Ô. Guerlac đã đưa ra, về thái độ «duy tâm chủ nghĩa», sự bỏ qua liên hệ giữa cái gọi là khoa học thuần túy với khoa học ứng dụng, và qua đó, sự không am hiểu vai trò của khoa học như một nhân tố lịch sử. Xin thừa nhận tôi chưa hề cảm thấy tội lỗi. Hơn nữa, trên thực tế, thứ «chủ nghĩa duy tâm» của chúng tôi – chốc nữa tôi sẽ quay lại vấn đề này – chỉ là một phản ứng chống lại các toan tính giải thích hay những giải thích sai về khoa học hiện đại – khoa học thực hành và mang tính thao tác = scientia activa, operativa[10] – như một sự nâng cấp của kỹ thuật. Hoặc giả chúng ta ca ngợi và tán dương khoa học hiện đại vì tính thực tiễn và hữu hiệu của nó, khi giải thích sự ra đời của nó bằng chủ nghĩa tích cực của con người hiện đại – của giai cấp tư sản đang lên, bằng cách đối chiếu nó với thái độ khán giả thụ động của con người thời Trung cổ hay Cổ đại; hoặc giả chúng ta chỉ định và lên án khoa học hiện đại như một thứ «khoa học kỹ thuật (science d'ingénieur)», cái đã thay thế nỗ lực tìm tòi của trí tuệ bằng nhiệm vụ tìm kiếm sự thành công trong cuộc đời, và giải thích nó bằng thái độ ngạo mạn (hybris) của một ý chí quyền lực có xu hướng vất bỏ cái lý thuyết (theoria) vì cái thực tiễn (praxis), nhằm cải biến con người, từ vị thế kẻ chiêm ngưỡng sùng bái thành «chủ nhân và kẻ sở hữu thiên nhiên»; thì vẫn chẳng có gì đổi khác cả: trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đang đứng trước cùng một ngộ nhận về bản chất của tư duy khoa học. Hơn nữa, tôi cũng tự hỏi: phải chăng sự kiện Ô. Guerlac cố đặt dấu nhấn trên mối quan hệ giữa khoa học thuần túy và khoa học ứng dụng, và trên vai trò của khoa học như một nhân tố lịch sử, ít ra ở một mức độ nào đấy, là một sự phóng chiếu trở lại vào quá khứ của tình hình hiện tại, hay ít ra là hiện đại. Thực vậy, chắc chắn rằng vai trò của khoa học trong xã hội hiện đại đã tăng lên đều đặn suốt vài thế kỷ qua, và ngày nay nó đang chiếm một vị trí khổng lồ và đang trong quá trình trở thành quyết định ở đây. Chắc chắn rằng nó đã trở thành một nhân tố có tầm quan trọng rất lớn, thậm chí là quyết định, trong lịch sử. Cũng không kém chắc chắn rằng quan hệ của nó với khoa học ứng dụng là còn hơn cả gần gũi nữa: các «công cụ» lớn của vật lý hạt nhân là các nhà máy. Và các nhà máy tự động của chúng ta, chúng chỉ là hiện thân của lý thuyết khoa học, như bao vật dụng trong cuộc sống hàng ngày khác, từ chiếc phi cơ chuyên chở ta đến cái loa cho phép chúng ta nghe to và xa... Tất cả những điều này rõ ràng không phải là một hiện tượng hoàn toàn mới, mà là điểm tới của một sự phát triển. Một sự phát triển đã không ngừng tăng tốc, tuy những bước đầu của nó ở rất xa chúng ta. Như vậy, rõ ràng là lịch sử của thiên văn học hiện đại gắn liền với lịch sử của kính thiên văn, và nói chung, khoa học hiện đại là không thể tưởng tượng được, nếu không có vô số công cụ quan sát và đo lường mà nó sử dụng. Và trong quá trình sản xuất ra chúng, sự hợp tác của nhà khoa học với nhà kỹ thuật đã được thực hiện từ thế kỷ XVII và XVIII, như M. Daumas* đã cho chúng ta thấy[11]. Không thể chối cãi rằng đã có một sự phát triển song song đáng kể, giữa hóa học lý thuyết và hóa học công nghiệp, giữa lý thuyết về điện học và ứng dụng của nó. Tuy nhiên, sự tương tác giữa lý thuyết và thực hành này, sự thâm nhập của cái thứ nhất vào cái thứ hai, và ngược lại, sự xây dựng lý thuyết từ giải pháp của các vấn đề thực tiễn – và chúng ta đã thấy trong và sau chiến tranh là điều này có thể tiến xa đến mức nào – dường như là một hiện tượng về cơ bản là hiện đại, đối với tôi. Thời Cổ đại và thời Trung cổ, chỉ cung cấp cho ta, rất ít ví dụ – nếu chúng có – về sự tương tác này, ngoài sự phát minh ra đồng hồ mặt trời, và khám phá của Arkhimēdēs về nguyên lý mang tên ông[12]. Đối với các kỹ thuật cổ đại, chúng ta phải thừa nhận rằng, ngay cả ở Hy Lạp, chúng cũng là một thứ gì đó khá khác so với «khoa học ứng dụng». Dù điều này có vẻ là đáng ngạc nhiên đối với chúng ta, con người có thể xây dựng đền thờ và cung điện, thậm chí cả thánh đường, có thể đào kênh và xây cầu, phát triển luyện kim và gốm sứ, mà không cần phải có tri thức khoa học, hoặc chỉ cần biết những điều sơ đẳng. Khoa học không là thiết yếu cho sự sống của một xã hội, cho sự phát triển của một nền văn hóa, cho việc xây dựng một Nhà nước, thậm chí một Đế chế. Vì vậy, đã từng có những đế chế, cả những đế chế rộng lớn, những nền văn minh, cả những nền văn minh rất đẹp (hãy nghĩ đến Ba Tư hoặc Trung Quốc) hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn không cầu tới khoa học; cũng như đã từng có những đế chế và nền văn minh khác (hãy nghĩ tới La Mã), tuy đã nhận được tài sản thừa kế, nhưng không hoặc hầu như không thêm được gì vào đấy cả. Vì vậy, chúng ta không nên phóng đại vai trò của khoa học như một nhân tố lịch sử: trong quá khứ, ngay cả ở những nơi nó thực sự tồn tại như ở Hy Lạp, hay ở thế giới phương Tây tiền hiện đại, vai trò của khoa học cũng chỉ là rất nhỏ[13]. Điều này dẫn ta tới, hay đưa ta trở lại, vấn đề khoa học như hiện tượng xã hội, và vấn đề những điều kiện xã hội cho phép hoặc cản trở sự phát triển của nó. Việc có những điều kiện như vậy là hoàn toàn hiển nhiên, và tôi hoàn toàn nhất trí với ông Guerlac về điều này. Hơn nữa, làm sao tôi lại không đồng ý, khi bản thân tôi đã nhấn mạnh trên điều này[14] chỉ vài năm trước đây thôi? Để khoa học ra đời và phát triển, cần có những người có thời gian nhàn rỗi, như Aristotelēs từng giải thích với chúng ta. Nhưng như thế vẫn chưa đủ; điều cần thiết nữa là, một mặt, trong số thành viên của các tầng lớp nhàn hạ cũng phải xuất hiện những con người tìm thấy sự hài lòng trong hiểu biết, trong cái theoria; mặt khác, sự thực thi cái theoria này, hoạt động khoa học, cũng phải có một giá trị trong mắt xã hội[15]. Thế nhưng đây là những thứ không cần thiết, thậm chí là những điều rất hiếm và chỉ xảy ra hai lần trong lịch sử, theo hiểu biết của tôi. Bởi vì, dù Aristotelēs nghĩ sao đi nữa, con người không hề tự nhiên thấy được kích thích bởi ham muốn hiểu biết, ngay cả người Athēnai. Còn các xã hội, cả lớn và nhỏ, nói chung đều không thích thứ hoạt động thuần túy không mục đích và, ít nhất vào buổi đầu, hoàn toàn vô ích, của nhà lý thuyết[16]. Bởi vì, phải thừa nhận rằng, lý thuyết không – ít ra là không tức khắc – dẫn tới thực tiễn; và thực tiễn không – ít ra là không trực tiếp – tạo ra lý thuyết mà ngược lại, nhiều khi nó còn khiến cái sau đổi hướng. Vì vậy, không phải là các viên chức đo đạc[17] những cánh đồng ở thung lũng sông Nile, mà chính là những người Hy Lạp không có chi phải đo cả, đã phát minh ra hình học; người Ai Cập chỉ ngừng lại ở những cách thức đo – một thứ công thức nấu ăn. Tương tự, không phải những người Babylon, vì tin tưởng vào chiêm tinh học, và do đó, cần có khả năng tính toán và dự đoán vị trí của các hành tinh trên Thiên cầu, đã nghiên cứu ra một hệ thống chuyển động của các hành tinh[18], như Ô. Van der Waerden* vừa nhắc nhở chúng ta; một lần nữa, đây lại cũng chính là một công trình của người Hy Lạp, những kẻ không tin vào chiêm tinh học; người Babylon chỉ phát minh ra các phương pháp tính toán, phải nói là cực kỳ tài tình – nhưng một lần nữa, cũng chỉ như thứ công thức nấu ăn. Theo tôi, kết quả là nếu chúng ta có thể giải thích đúng đắn vì sao khoa học đã không ra đời, và không phát triển ở Persia hay Trung Quốc – vì những bộ máy quan liêu lớn vốn thù ghét thứ tư tưởng khoa học độc lập, như Ô. Needham* đã giải thích cho ta[19]; và nếu, xét cho cùng, chúng ta có thể giải thích vì sao nó lại có thể sinh ra và phát triển ở Hy Lạp, thì ta cũng không thể giải thích ngay cả vì sao quá trình ấy đã xảy ra trên thực tế[20]. Vì vậy, muốn suy diễn nền khoa học Hy Lạp ra từ cấu trúc xã hội của thành quốc, hoặc thậm chí từ khu agora, là vô vọng đối với tôi. Athēnai không giải thích Eudoxos, cũng không giải thích Platōn. Như Syrakousai không giải thích Arkhimēdēs, hoặc Florence giải thích Galileo. Về phần mình, tôi tin rằng vào thời hiện đại, và ngay cả ở thời đại chúng ta, sự thể cũng giống như vậy, bất chấp điều kiện là khoa học thuần túy và khoa học ứng dụng nay đã xích lại gần nhau hơn, như tôi vừa nói. Không phải cấu trúc xã hội của nước Anh ở thế kỷ XVII có thể giải thích Newton cho chúng ta, cũng không phải cấu trúc xã hội của nước Nga thời Nikolai Đệ nhất có thể làm sáng tỏ công trình của Lobacevskij. Đây là một công việc hoàn toàn hão huyền, cũng hão huyền như nỗ lực dự đoán sự tiến hóa trong tương lai của (các) khoa học theo (các) cấu trúc xã hội, của (các) xã hội của chúng ta. Về những ứng dụng thực tiễn của khoa học, tôi nghĩ cũng vậy: không phải thông qua chúng mà chúng ta có thể giải thích được bản chất và sự tiến hóa của khoa học. Trên thực tế, tôi tin – và nếu niểm tin này là một thứ chủ nghĩa duy tâm, thì tôi sẵn sàng mang nỗi nhục làm một người theo chủ nghĩa duy tâm, để hứng chịu những trách móc và phê phán của ông bạn Guerlac – rằng khoa học, ở thời đại chúng ta, cũng như ở thời Hy Lạp cổ đại, về cơ bản là theoria, là nỗ lực truy tìm chân lý, và vì vậy mà nó có, và luôn luôn có một đời sống riêng, một lịch sử nội tại, và chỉ bằng cách dõi theo những vấn đề của riêng nó, lịch sử của chính nó, mà các sử gia có thể hiểu được nó. Tôi còn tin rằng đây chính là điều giải thích tầm quan trọng to lớn của lịch sử khoa học, của tư tưởng khoa học, đối với lịch sử nói chung. Bởi vì nếu như Pascal đã nói, nhân loại chỉ như một con người sống mãi mãi và luôn luôn học hỏi, thì khi ta nghiên cứu lịch sử khoa học, có nghĩa là ta đang tìm hiểu về lịch sử của chính chúng ta, hơn thế nữa, về bản tự truyện của trí tuệ ta. Và đấy cũng là lý do khiến lịch sử khoa học vừa có sức hấp dẫn, vừa có tác dụng giáo dục như vậy; nó cho chúng ta thấy tinh thần con người ở đỉnh cao nhất của nó, trong sự theo đuổi không ngừng nghỉ, luôn luôn chưa hài lòng và luôn luôn đổi mới, một mục đích luôn luôn vuột xa tầm với: truy tìm chân lý (itinerarium mentis in veritatem = hành trình của tinh thần đến với chân lý)[21]. Tuy nhiên, lộ trình này không hề được cho trước; và tinh thần không tiến lên theo đường thẳng. Con đường dẫn tới chân lý chứa đầy cạm bẫy và rải rác đó đây những sai lầm. Ở đây, thất bại là thường xuyên hơn thành công; mặt khác, đôi khi chúng cũng khai thị và có giá trị chỉ dẫn như các thành tựu. Vì vậy, chúng ta sẽ sai lầm nếu bỏ qua việc nghiên cứu những sai lầm[22] – chính xuyên qua chúng mà trí tuệ tiến tới chân lý. Hành trình của tinh thần đến với chân lý không phải là con đường thẳng. Nó ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, đi vào các ngõ cụt, rồi tiến tới, rồi trở lui. Hơn nữa, nó không chỉ là một mà là nhiều ngả đường. Nẻo đi của nhà toán học không phải là của nhà hoá học, không phải của nhà sinh học, thậm chí của nhà vật lý học cũng không... Vì vậy, chúng ta phải theo đuổi tất cả các ngả đường ấy trong hiện thực cụ thể của chúng, nghĩa là trong sự tách biệt lịch sử của chúng, và đành phải viết các lịch sử của các khoa học, trước khi ta có thể viết lịch sử của khoa học, trong đó chúng sẽ tan vào, như các nhánh của một con sông hội nhập vào dòng chảy chính của nó. Liệu nó sẽ bao giờ được viết ra chăng? Chỉ tương lai mới trả lời được. Alexandre Koyré, Perspectives sur l'histoire des sciences, Trg: Etudes d'histoire de la pensée scientifique, Paris, Gallimard, 1973, tr. 390-399. [1] Pierre Bayle (1647-1706), nhà văn và triết gia Pháp. Tác phẩm chính: Pensées diverses écrites à un docteur de Sorbonne à l'occasion de la Comète qui parut au mois de décembre 1680 (1682, 2007); Ce que c'est que la France toute catholique sous le règne de Louis Le Grand (1685); Commentaire philosophique sur ces paroles de Jésus-Christ: «Contrains-les d’entrer», 1686; Dictionnaire historique et critique (1697, 1702, 1740, 1820-1824); Œuvres diverses (1727); Correspondance de Bayle. NVK [2] Khi có thể tham khảo, xem trên trang mục Sử Học & Địa chính Trị : Lý Tưởng Không Thiên Vị Trong Sử Học. NVK [3] Bài tham luận tại Colloque d’Oxford [về lịch sử khoa học], tháng 7 năm 1961. [4] Khi có thể tham khảo, xem các bài của và về W. Dilthey* trên trang mạng. NVK [5] Raymond Aron, Introduction à la philosophie de l'histoire: essai sur les limites de l'objectivité historique, Paris, Gallimard, 1938. Khi có thể tham khảo, xem các bài khác của và về R. Aron trên trang mạng. NVK [6] Chủ nghĩa duy danh khoa học, học thuyết cho rằng các định luật và lý thuyết khoa học không phải là những hiểu biết hay biểu hiện hiện thực và khách quan của sự vật mà chỉ là những kiến trúc của lý trí. [7] Henry Edward Guerlac (1910-1985): sử gia khoa học người Mỹ. Tác phẩm chính: Joseph Black and fixed air (1957), Lavoisier - The Crucial Year (1961), Antoine-Laurent Lavoisier : Chemist and Revolutionary (1973), Newton on the Continent (1981).NVK [8] Nhân vật tiểu thuyết. Tristram Shandy hay The Life and Opinions of Tristram Shandy, Gentleman là bộ tiểu thuyết của Laurence Sterne (9 q., 1759-1767). Quyển sách được giả định là bản tự truyện của nhân vật mang tên nó, nhưng trò đùa cốt lõi của Sterne là, vì Tristram không thể giải thích bất cứ điều gì một cách đơn giản, phải ôm đồm kể hết mọi chuyện chung quanh, liên tục bổ sung bối cảnh, màu sắc, ý kiến cho câu chuyện (mãi đến tập thứ ba, sự ra đời của Tristram mới được mô tả), nên quyển tiểu thuyết có đầy những ngả rẽ, tới lui vòng vèo kiểu như lạc đề. [9] Tư duy của chúng ta mang tính trừu tượng và phân tích. Hiện thực là một, và các khoa học đa tạp nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của nó – vật lý học, hoá học, điện từ học... – đều là những sản phẩm của sự trừu tượng hoá. [10] Khi có thể tham khảo, xem thêm trên phần Triết Học các bài liên quan tới sự chuyển hướng của triết học trong thế kỷ XVII-XVIII (Bacon, Descartes, Dumarsais). NVK [11] Sự hợp tác này đã dẫn đến sự xuất hiện và phát triển của một công nghệ hoàn toàn mới, đó là công nghệ về dụng cụ khoa học, vốn đã – và vẫn đang – đóng một vai trò chủ yếu trong quá trình khoa học hóa công nghệ, với một tầm quan trọng không ngừng gia tăng song song với mỗi tiến bộ đạt được trong lĩnh vực khoa học, đặc biệt là trong các khoa học thực nghiệm. Thật vậy, làm sao sự phát triển của vật lý nguyên tử có thể thực hiện được, nếu không có sự phát triển song song của nhiếp ảnh và của các máy tính? [12] Ở đây, có thể kể thêm về đường hầm Eupalinos. AK. Về đường hầm Eupalinos, khi có thể tham khảo, xem trên trang mục này: Paul Valéry, Trừu Tượng Hoá Trong Kỹ Thuật, cht 2. NVK [13] Ô. Neugebauer từng nhấn mạnh trên số lượng quá ít các nhà bác học trong thời Cổ đại. AK. Quy chiếu về tác giả và quyển sách sau: Otto Eduard Neugeberger, The Exact Sciences in Antiquity, 1951. NVK [14] Cf. Bài báo của tôi trong Scientific Monthly, t. LXXX, 1955, tr. 107-111. [15] Giới quý tộc chiến binh khinh thường, vì vậy mà không xây dựng khoa học (Sparta), những xã hội «tích luỹ» cũng vậy (Korinthos). Đưa thêm các thí dụ gần đây hơn là thừa, theo tôi. [16] Bá vương Herōn II của thành Syrakousai đòi hỏi Arkhimēdēs giải quyết những vấn đề thưc tiễn, và nhà bác học đã để lại tiếng tăm muôn đời nhờ đã phát minh ra cỗ máy chiến tranh chống đội quân xâm lược La Mã. Camille Le Tellier de Louvois cũng đòi hỏi từ Viện Hàn Lâm Khoa Học Hoàng gia Pháp những kết quả thực tiễn, và đòi hỏi này đã góp phần đáng kể vào sự suy đồi của Viện. [17] Harpedonapte (sn harpedonaptai), do sự kết hợp giữa harpedonē (sợi dây) và haptō (buộc, thắt nút, nắm lấy). Từ này dùng để chỉ các quan chức đo đạc đất đai thời Ai Cập cổ đại, do đó, có thể được dịch nghĩa sang tiếng Việt là «người căng dây». Với một sợi dây thừng đặc biệt có 13 nút thắt phân chia thành 12 đoạn bằng nhau, họ căng sợi dây này theo tỷ lệ các cạnh 3:4:5, tạo ra một tam giác vuông hoàn hảo (góc 90°). Phương pháp này được họ dùng để tái định vị, đo đạc lại ranh giới ruộng đất cho nông dân sau mỗi mùa lũ của sông Nil, đồng thời giữ vai trò xác định góc vuông trong việc xây dựng các công trình vĩ đại như Kim tự tháp. Các nhà toán học Hy Lạp cổ đại (như Thalēs hay Dēmokritos) đã học hỏi rất nhiều từ kỹ thuật thực nghiệm này của các harpedonaptai để đặt nền cho bộ môn hình học phương Tây về sau. NVK. [18] Chiêm tinh học chỉ quan tâm đền vị trí của các hành tinh và các dạng hinh mà chúng tạo ra trên Thiên cầu. Đây là điều chúng ta thường hay quên. [19] Ngay cả ngày nay, các bộ máy quan liêu tương tự cũng chỉ quan tâm đến những kết quả «thực tiễn», và nếu đôi khi chúng cũng khuyến khích loại nghiên cứu lý thuyết – làm fundamental research, thì cũng chỉ trong chừng mức là chúng chờ đợi những áp dụng theo sau. Do đó, nhiều lý thuyết gia cũng thường theo đuôi và bắt chước Bacon, tìm cách thuyết phục các xã hội, rằng sớm hay muộn gì rồi nghiên cứu lý thuyết cũng sẽ chứng tỏ là nó «có lợi». [20] Khi có thể tham khảo, xem trên trang mục này những bài liên quan tới các cuộc tranh luận chung quanh hai hệ đề về sự phát triển của khoa học. Hệ đề I, về yếu tố khiến khoa học phát triển, với hai quan điểm nội phát = internalist (khoa học phát triển được là nhờ sự cọ sát và thay đổi của các khái niệm, quan điểm, lý thuyết... từ bên trong nó), và ngoại phát = externalist (khoa học phát triển được là nhờ các yếu tố bên ngoài, như tiến bộ văn hoá, phát triển kinh tế xã hội...). Hệ đề II : vì sao sự phát triển của khoa học chỉ xảy ra ở phương Tây mà không xảy ra ở Trung Quốc hay Persia?, với quan điểm thường được gọi là nội sinh = endogenous, endogène ; nội dung của phát triển nội sinh là: a) khoa học phát triển được ở phương Tây là nhờ sự tập hợp của một số điều kiện văn hoá, chính trị, kinh tế (luận điểm trùng lặp với quan điểm ngoại phát của hệ đề I) b) nhưng những điều kiện này là độc đáo và độc nhất (đã và chỉ xảy ra ở phương Tây), và chúng đã tác động như một thứ gien văn hoá (trong từ endogenous hay endogène, có từ gene) không có ở nơi nào khác; c) do đó, khoa học đã chỉ phát triển được ở phương Tây, chứ không ở Persia hay Trung Quốc. NVK [21] Nhại tên tác phẩm thần bí của Thánh Bonaventure: Itinerarium mentis in Deum (Lộ Tình Của Tinh Thần Đến Với Thượng Đế), viết năm 1259. NVK [22] Khi có thể tham khảo, xem trên cùng trang mục này: d’Alembert (Jean-Baptiste Le Rond), Bốn Đối Tượng Của Lịch Sử Khoa Học. |