«LÔGIC HỌC NHƯ VẬT LÝ HỌC VỀ BẤT KỲ ĐỐI TƯỢNG NÀO» (F. GONSETH, 1935)
LM : 15-4-2026 C2

Từ khóa : Lô-gic học – Vật lý học – Vật thể – Thích nghi luận – Nguyên tắc (lô-gic. học) – Gonseth (Ferdinand), Trích đoạn


«LÔ-GIC HỌC NHƯ VẬT LÝ HỌC
VỀ BẤT KỲ ĐỐI TƯỢNG NÀO»
(1935)

 

Tác giả : Ferdinand Gonseth
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Là nhà toán học và triết gia khoa học, Ferdinand Gonseth[1] đề xuất một thứ «triết lý mở» đặt tên là Idoneism(e) – có thể được dịch là thích nghi luận[2] – theo đó có một tác động qua lại liên tục giữa lý trí* – với vai trò quyết định của trực giác[3] – và hiện thực: khái niệm và lý thuyết phải thích nghi vào sự kiện và hiện thực, ngược lại, sự kiện và hiện thực phải không ngừng được soi sáng bởi khái niệm và lý thuyết. Trong thứ quan niệm này, ngay cả loại tri thức trừu tượng cũng không thể rũ bỏ nguồn gốc kinh nghiệm của nó: theo Gonseth, các phép toán và quy tắc lô-gic chỉ là sự hình thức hoá* những thao tác mà chúng ta thực hiện một cách tự nhiên trên các vật thể.

Tại Congrès International de Philosophie Scientifique (Paris, 9-1935), ông khẳng định trong bài đóng góp của mình, rằng lô-gic học là mõt khoa học tự nhiên rất sơ khai mà ta có thể gọi là «vật lý học về bất kỳ vật thể nào». Dưới đây là bản dịch Việt ngữ một trích đoạn từ phát biểu trên, đăng lại trong Qu'est-ce que la Logique? (1937). Để bạn đọc dễ theo dõi bài viết, chúng tôi đã thêm vào bản dịch các tiểu tựa và chú thích.

*

1 – Ý tưởng vật thể

Hãy đặt ý tưởng vật thể vào tâm điểm của sự chú ý của chúng ta. Trước hết, đặc trưng của cái vật thể mà nó tổng hợp là gì? [...]

Chiếm một phần không gian nhất định và có một hình dạng nào đó chăng? Để đây là một đặc tính hoàn toàn chính xác, thì sự tách biệt giữa bản thân vật thể và không gian xung quanh phải hoàn toàn rõ rệt. Thế nhưng vật lý học ngày nay không còn cho phép chúng ta hình dung một sự định vị dứt khoát như vậy nữa. Để hiểu, chỉ cần gợi ra ý tưởng electron, gói năng lượng sóng, là đủ! [...]

Kết luận là: quan niệm về một vật thể xác định nằm ở cuối một nỗ lực trừu tượng hóa và đồng nhất hóa về hình thể, về những di chuyển, về các phẩm chất cảm giác và những biến thể của chúng, v. v..., tóm lại, cái ý tưởng vật thể mà hiện thực thông thường nhất gợi ra cho ta, chỉ đúng một cách qua loa, giống như cái ý tưởng đường thẳng tuyến tính mà một sợi dây căng thẳng gợi ý cho ta vậy.

Và vì sự tương tự này làm chúng ta ngạc nhiên, hãy giữ nó giây lát như một hướng dẫn. Cái quá trình vô thức đã cung cấp cho ta hình dung trực quan của vật thể này hoặc vật thể kia có thể tương ứng với sự tiền tiên đề hoá (pré-axiomatisation). Liệu ta có thể mở rộng nó bằng một sự tiền tiên đề hoá minh thị chăng? Trong mục đích này, ý tưởng về vật thể phải có được một sự sơ đồ hoá rõ ràng hơn, đồng thời với các ý tưởng đi kèm về sự có mặt hoặc hoàn toàn vắng mặt ở đâu đó. Ý tưởng về vật thể sẽ không còn tiếp nhận bất cứ cái gì gợi nghĩ tới sự hiện diện ở một nơi nào chính xác, mà chỉ là sự kiện tồn tại hay không tồn tại mà thôi. Như vậy, chuyển đổi này sẽ kéo ta từ ý tưởng về sự hiện diện hoặc vắng mặt tới ý tưởng về sự tồn tại hoặc không-tồn tại thuần túy. Và, cũng tương tự, ta sẽ tìm thấy ý tưởng về sự đồng nhất thuần túy của vật thể với chính nó ở cuối cái ý tưởng về sự thường trực của vật thể trong các thuộc tính của nó. Nhưng là một sự đồng nhất ở đấy chỉ có sự tồn tại hoặc không tồn tại mới được xem xét, một sự đồng nhất về tồn tại (identité existentielle) mà có lẽ tốt hơn chúng ta nên nói thêm một vài từ.

Cho A và B là hai dấu hiệu khác nhau. Nếu xảy ra trường hợp là tôi không thể viết một dấu mà không viết dấu kia, và xoá một dấu mà không xoá dấu kia, và nếu vấn đề chỉ đơn giản là ghi nhận sự có mặt hoặc sự vắng mặt của chúng, thì không có gì ngăn cấm chúng ta xem dấu này là dấu kia. Sự tương đương thực tế này là một thể hiện tốt về sự tương đương thuần túy về tồn tại. Trong cùng một mạch ý tưởng, nếu tôi vẽ hai lần cùng một dấu hiệu (hai thực hiện khác nhau, nhưng có thể nhận ra là của cùng một dấu hiệu) thì hai thực hiện này có thể được xem là giống hệt nhau, nếu vấn đề ở đây chỉ là ghi nhận sự có mặt hoặc vắng mặt. Sự đồng nhất trong thực tế này thực hiện ý tưởng về sự đồng nhất về tồn tại.

Ví dụ cuối cùng này là một chuẩn bị hoàn toàn tự nhiên cho việc xây dựng những tiên đề (axioms) mà nhiệm vụ là nêu lên các quy tắc sử dụng những tóm lược mới. Các tiên đề có nhiệm vụ mô phỏng, bằng các tóm tắt sẵn sàng để sử dụng, những sự kiện nổi bật mà sự biểu hiện qua trực giác đã cho thấy một hình ảnh sơ  lược. Việc nhận ra bản sắc hiện tồn (thực hiện sự đồng nhất tồn tại) bằng sự tương đương thực tế của hai «thực bản (exemplaires)» của cùng một biểu tượng đương nhiên gợi ý cho một tiên đề đầu tiên:

TIÊN ĐỀ 1 - Mọi vật thể đều đồng nhất với chính nó.

Đấy là nguyên tắc đồng nhất.

Mặt khác, kiến ​​thức hoàn toàn thực tế của chúng ta – và nó phải được nhắc tới ở đây – về các quy luật về sự có mặt và vắng mặt của các đối tượng vật chất, còn kết tinh trong hai tiên đề khác là:

TIÊN ĐỀ 2  - Mọi vật thể đều hoặc tồn tại hoặc không tồn tại.

Đấy là nguyên tắc loại trừ trường hợp thứ ba.

TIÊN ĐỀ 3  - Một vật thể không thể tồn tại đồng thời không tồn tại.

Đấy là nguyên tắc mâu thuẫn. [...]

2 – Ý tưởng một «đối tượng bất kỳ»

Ở cuối sự trừu tượng hóa bằng tiên đề hoá của ta là cái ý tưởng về một đối tượng bất kỳ nào, miễn là nó không có một sự xác định trước nào, và chỉ có thể có ba thuộc tính nội tại – về hữu thể (être) hoặc phi hữu thể (non-être) thuần túy, và về sự đồng nhất tồn tại với chính bản thân nó (identité existentielle), không tính tới những «quan hệ tồn tại (relations existentielles)» mà nó có thể bước vào với các đối tượng cùng loại khác.

Ý tưởng hết sức trừu tượng này có thể được gọi đơn giản là đối tượng trừu tượng hay đối tượng lô-gic.

[...] Về những gì vừa nói, đôi khi sẽ rất thuận tiện nếu ta sử dụng một ký hiệu để chỉ đối tượng lô-gic [...] Hãy lấy A là biểu tượng của một đối tượng mà sự tồn tại hay không tồn tại chưa được xác định chẳng hạn, A là biểu tượng cho sự tồn tại của nó, và Ā là biểu tượng cho sự không tồn tại của nó. A, A và Ā bây giờ là ba đối tượng cụ thể, mà ba tiên đề cơ bản có cấu hình (được thực hiện) như sau:

TIÊN ĐỀ 1 - Chữ A có nghĩa giống nhau ở mọi nơi.

TIÊN ĐỀ 2 - Bất kỳ xác định nào về A cũng sẽ dẫn tới việc gạch dưới hoặc gạch trên nó.

TIÊN ĐỀ 3. - Và hai trường hợp trên loại trừ lẫn nhau.

Cần lưu ý rằng, trong ba phát biểu trên, tất cả các từ đều chỉ có ý nghĩa thông thường của chúng. Đây không phải là vấn đề đồng nhất về tồn tại thuần tuý, cũng không phải vấn đề tồn tại thuần túy. Một lần nữa, chúng ta chỉ dựa vào những tri ​​thức trực quan và trên thực tế chắc chắn của ta về các dấu hiệu mà ta biết vẽ ra trên giấy. [...]

Bây giờ hãy tưởng tượng hai đối tượng không có bất kỳ liên kết rõ ràng nào, và có thể được thao tác độc lập với nhau, như hai quyển sách trên hai giá sách của một thư viện chẳng hạn [...] Trên thực tế, chúng có thể có mặt hoặc vắng mặt độc lập với nhau. Khái niệm trừu tượng phù hợp với cái nhìn sơ  đồ này là khái niệm về hai «dạng đối tượng (formes d'objets)» độc lập với nhau, nghĩa là hai dạng thừa nhận bốn khả năng sau, không phân biệt, không có ưu tiên:

a) A có mặt, và B cũng có mặt;

biểu thị bằng các ký hiệu

A và B

b) A có mặt, nhưng B không có mặt;

biểu thị bằng các ký hiệu

A và B

c) B có mặt, nhưng A không có mặt;

biểu thị bằng các ký hiệu

Ā và B

d) Cả A lẫn B đều không có mặt ;

biểu thị bằng các ký hiệu

Ā và B

Có phải hai «dạng đối tượng» là luôn luôn độc lập với nhau chăng? Không hề! Cái mà chúng ta vừa gọi, cách đây không lâu, là hai đối tượng bất định tương đương về mặt tồn tại, chúng chỉ đơn giản là hai dạng mà các tình huống b) và c) bị loại trừ theo định nghĩa. Và người ta có thể, như một cách bổ sung, định nghĩa hai «dạng» là có quan hệ loại trừ lẫn nhau, nếu hai trường hợp a) và d) bị loại trừ theo định nghĩa. Ví dụ, hai lần đầu được thực hiện bởi hai nhân vật vào phòng cùng một lúc và rời khỏi phòng cùng một lúc; hai lần cuối bởi hai nhân vật, một trong số họ phải rời khỏi phòng nếu người kia bước vào, và ngược lại.

Hai ví dụ trên cho thấy một cách rõ ràng, rằng các quan hệ tương đương hoặc loại trừ mà chúng ta vừa tưởng tượng ra giữa hai dạng chỉ sơ đồ hóa các liên kết rất chặt chẽ có thể tồn tại giữa các đối tượng vật chất [...]

Chúng tôi muốn đặt dấu nhấn trên kết luận sau: phép loại suy mà chúng tôi lấy làm hướng dẫn cho thấy nó có hiệu quả từ đầu đến cuối. Trong suốt cái quá trình, khởi đi từ những thuộc tính tầm thường nhất và sơ khai nhất của các đối tượng vật chất, để dẫn tới các khái niệm và quy luật của tồn tại thuần túy, chúng ta tìm thấy lại, từng điểm một, cái quá trình bắt đầu từ những khía cạnh nhất định ít nhiều bề ngoài của thế giới vật chất để dẫn tới các phát biểu của hình học lý tính. Trong cả hai trường hợp, những gì được tìm thấy ở dạng trừu tượng, một khi sự trừu tượng hoá đã diễn ra, có giá trị của một quy luật tự nhiên trong ý nghĩa ngoại giới. [...] Tương tự, lý thuyết lý tính về tồn tại khách quan, mà chúng ta vừa đặt nền móng, chỉ là dạng tiên đề của một trong những chương đầu tiên, nếu không phải là chương đầu tiên – chương về sự tồn tại, hiện diện và vắng mặt của các vật thể thuộc bất kỳ bản chất nào – trong khoa vật lý học.

Tóm lại, Vật lý học về bất kỳ đối tượng nào và Lý thuyết về sự tồn tại thuần túy là hai khoảnh khắc của cùng một sự vụ. Đúng là, đối với một vấn đề tầm thường như vậy, kiến ​​thức trực quan sẽ không cần tới sự trợ giúp của loại thiết bị thí nghiệm. Chẳng có gì ở đây có thể khiến chúng tôi thay đổi kết luận. Những hiển nhiên từ vật lý về vật thể có thể được xem như kết quả của thí nghiệm. Hơn nữa, chỉ cần nhìn trẻ em chơi là đủ như chứng kiến ​​một chuỗi thí nghiệm thuộc loại này...

Kết quả của cuộc thảo luận không thể không đập vào mắt chúng ta: toàn bộ phần lô-gic học cơ bản có thể được tập hợp chung quanh các khái niệm vật thể và tồn tại. Các quy luật được nó công thức hoá tìm thấy sự thực hiện tự nhiên của chúng trong lĩnh vực của những vật thể cụ thể; ở đấy chúng mang ý nghĩa của các định luật tự nhiên rất nguyên thủy và không thể sai trong thực tế.

 

Ferdinand Gonseth
Qu'est-ce que la Logique?
Hermann et Cie, 1937, tr. 69-78, passim.

 

 

[1]  Ferdinand Gonseth (1890-1975), nhà toán học và triết học Thuỵ Sĩ. Tác phẩm chính:

Les Fondements des mathématiques (1926, 1974); Les Mathématiques et la réalité  (1936, 1974); Qu’est-ce que la logique? (1937); Philosophie mathématique (1939); La Géométrie et le problème de l’espace (1945-55); Le Problème du temps (1964); Le Référentiel, univers obligé de médiatisation (1975). NVK

[2]  Idoneism(e), do từ La-tinh idoneous, có nghĩa là thích hợp (appropriate, suitable, fit for a specific purpose = adéquat, convenable, bien adapté à une situation donnée), NVK

[3]  Về vấn đề trực giác trong thích nghi luận của F. Gonseth, xem phần giới thiệu của bản dịch : Ferdinand Gonseth, Con Số Là Một Phẩm Chất Vật Lý Của Các Nhóm Vật Thể. NVK

CHUYÊN TRANG CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU Nguyễn Văn Khoa