THỜI ĐIỂM & THỜI GIAN ĐÀO TẠO TẦNG LỚP GIÁM HỘ (PLATŌN, khg 387-370 tCn)

LM : 15-12-2025

C1

Từ khoá : Giáo dục (Chương trình) — Giám hộ (Tầng lớp) — Số học — Hình học – Thiên văn học — Âm nhạc học — Triết học — Biện chứng — Platōn, Trích đoạn

 

QUY TRÌNH GIÁO DỤC CHO TẦNG LỚP GIÁM HỘ
(khg 387-370 tCn)

Tác giả : Platōn*
Bản tiếng Anh : Benjamin Jowett*
Bản tiếng Pháp : Victor Cousin*
Người dịch : Nguyễn Văn Khoa

 

 (Xem phần A)

  *

B – THỜI ĐIỂM & THỜI GIAN ĐÀO TẠO TẦNG LỚP GIÁM HỘ

SŌKRATĒS: Vấn đề còn lại là quyết định xem chúng ta sẽ truyền bá cho ai và như thế nào[1] những tri thức kể trên.

GLAUKŌN: Đúng vậy.

SŌKRATĒS: Cậu còn nhớ họ — những người chúng ta đã chọn để cai trị thành quốc[2] ấy — họ phải có những đặc trưng gị không?

GLAUKŌN: Nhớ chứ.

SŌKRATĒS: Chính cậu đã nghĩ rằng ta phải ưu tiên chọn* những người có tầm vóc này — kiên định, dũng cảm, và ngay cả đẹp đẽ nhất trong chừng mức có thể. Nhưng đồng thời họ cũng cần phải có thêm, [535b] không chỉ khí chất cao quý và mạnh mẽ, mà luôn cả tâm thế và năng khiếu thuận lợi cho thứ giáo dục mà chúng ta muốn trao truyền nữa.

GLAUKŌN: Ông nghĩ tới những năng khiếu nào vậy?

SŌKRATĒS: Sự sắc bén của trí tuệ — cần thiết cho việc nghiên cứu khoa học* và sự dễ dàng trong học tập. Thực vậy, tinh thần ta dễ chán nản trước những khó khăn của khoa học* hơn là trước những nhọc nhằn của thể dục nhiều; bởi vì ở đây cái gánh nặng chỉ đè trên phần hồn, chứ không phải trên toàn thân.

GLAUKŌN: Đúng thế.

SŌKRATĒS: Họ cũng phải có trí nhớ, sức bền bỉ, và tình yêu lao động [535c] trong mọi loại công việc không phân biệt — nếu không, thì cậu thử nghĩ xem, làm sao họ có thể chịu đựng, cùng một lúc, từng ấy bài tập thể dục, kỷ luật tinh thần và hoạt động trí tuệ như vậy?

GLAUKŌN: Chẳng bao giờ, trừ phi được sinh ra với thứ bản chất may mắn nhất ấy, hoạ may.

SŌKRATĒS: Sai lầm hiện nay thứ sai lầm đã gây ra không biết bao nhiêu tổn hại cho triết học, như chúng ta đã nói ở trên xuất phát từ thực tế là người ta đã lao vào triết học mặc dù chẳng có phẩm chất gì cho hoạt động này. Chúng ta chỉ nên để những ai có tâm thế và năng khiếu chính đáng tiếp cận triết học, chứ không phải bất cứ kẻ không chính tông[3] nào.

GLAUKŌN: Đấy là những gì, theo ông?

SŌKRATĒS: Trước hết, người nhiệt tâm dấn thân vào con đường này không được khập khiễng trong công việc, nghĩa là nửa cần cù nửa biếng nhác, [535d] như khi một thanh niên, đầy hăng hái trong phòng tập thể dục, với việc săn bắn và mọi kiểu rèn luyện thân thể khác, nhưng lại thờ ơ với, thậm chí sợ hãi, bất cứ thứ gì liên quan tới việc học hỏi, tranh luận, tìm tòi khoa học. Tôi cũng nói như vậy, về bất kỳ ai có cùng tâm thế, khi ta đảo ngược các lĩnh vực.

GLAUKŌN: Phải như thế mới được.

SŌKRATĒS: Và há chúng ta cũng không xem [535e] là một tâm hồn què quặt trước chân lý, bất cứ ai thù ghét sự dối trá cố ý, không thể chịu đựng được sự dối trá ấy ở chính mình mà không cảm thấy ghê tởm, hoặc ở người khác mà không phẫn nộ, nhưng lại chịu đựng sự dối trá vô tình vì thiếu hiểu biết[4], rồi đến khi bị phát hiện ra là dốt nát, chẳng những đã không xấu hổ, tự phẫn nộ với mình, mà còn lăn lóc trong sự thiếu hiểu biết như con lợn trong vũng bùn sao?

GLAUKŌN: [536a] Chắc chắn.

SŌKRATĒS: Về các phẩm hạnh tiết độ, dũng cảm, sự vĩ đại của tâm hồn và các đức tính khác, ta nên phân biệt cẩn thận một bản chất thuận lợi, với thứ bản chất không phù hợp. Vì không biết làm sự phân biệt này, nhiều nhà nước và cá nhân đã giao phó lợi ích của quốc gia và của bản thân, hoặc cho các viên chức, hoặc cho những bạn bè mà không nhận ra rằng họ thuộc nhóm tâm hồn què quặt và bất lực.

GLAUKŌN: Điều xảy ra quá thường.

SŌKRATĒS: Vì vậy, ta hãy lấy các biện pháp [536b] mà những suy tư trên gợi ý : nếu ta chọn đưa vào hệ thống giáo dục và đào tạo tầm cỡ này chỉ những công dân không thiếu sót chi hết — cả về mặt thể xác lẫn tâm hồn[5], thì không ai có thể chê trách gì chúng ta về công lý cả, vì nhà nước và luật pháp ta sẽ bền vững; nhưng nếu ta đưa vào đấy những công dân không xứng đáng, thì điều trái ngược sẽ xảy ra, và chính chúng ta sẽ tự mình chế giễu triết học nhiều hơn bây giờ nữa.

GLAUKŌN : Thật là đáng xâu hổ cho chúng ta.

SŌKRATĒS: Chắc chắn. Dú sao, có vẻ như chính bản thân tôi cũng đáng bị  chế giễu nữa.

GLAUKŌN: Về chuyện gì chứ?

SŌKRATĒS: Tôi quên mất là chúng ta đang lý luận suông[6], [536c] nên có lẽ đã hơi cường điệu. Bởi trong khi nói, cảm thấy rằng triết học đang bị chà đạp thực sự bởi những kẻ không xứng đáng3, tôi không nén được lòng bực tức những kẻ xúc phạm nó, nên đã để sự phẫn nộ lôi đi quá xa.  

GLAUKŌN: Tôi là người nghe ông, mà tôi đâu có nghĩ như vậy.

SŌKRATĒS: Đấy là cảm nghĩ của người nói, Glaukōn à. Dú sao, đừng quên rằng, nếu ở chọn lựa đầu tiên của ta, đối tượng được tuyển là người già[7], thì bây giờ nó không còn phù hợp nữa. Chúng ta không nên tin Solōn[8], [536d] khi ông ta nói rằng một người già có khả năng học được rất nhiều[9]; thật ra, người già chẳng có năng lực học được nhiều gì hơn là năng lực chạy. Không, tuổi trẻ mới là cái thời thích hợp cho mọi công trình lớn lao.

GLAUKŌN: Tất nhiên phải như thế.

SŌKRATĒS: Do đó, chúng ta phải dạy học viên của ta số học*, hình học*, và các khoa học dự bị cho phép biện chứng khác, ngay từ khi họ còn là trẻ nhỏ. Nhưng không được có bất cứ một hình thức cưỡng bách nào trong hệ thống giảng dạy của ta.

GLAUKŌN: Tại sao phải như thế?

SŌKRATĒS: Bởi vì một người tự do không nên học bất cứ cái gì [536e] trong tính huống nô lệ[10]. Ngay cả khi chúng là bắt buộc, các bài tập thể dục cũng vẫn hữu ích cho cơ thể, như khi chúng được tự nguyện thực hiện; nhưng thứ tri thức bị cưỡng ép nhồi nhét vào đầu sẽ không ở lại đấy bao lâu.

GLAUKŌN : Đúng vậy.

SŌKRATĒS: Vì vậy, Glaukōn thân mến, chúng ta hãy loại bỏ mọi hình thức bạo lực ra khỏi quy trình học tập của những đứa trẻ này, [537a] hãy để chúng học thông qua trò chơi. Bằng cách này, ta sẽ có thể biết rõ hơn tâm thế và năng khiếu tự nhiên của mỗi em.

GLAUKŌN: Ông nói rất có lý.

SŌKRATĒS: Như chúng ta đã nói trước đây, cậu còn nhớ chứ? Nếu không có gì nguy hiểm, thì trẻ em cũng phải được đưa ra trận trên lưng ngựa, phải tiếp cận chiến trường, thậm chí chứng kiến các cuộc giao tranh, để chúng cảm nhận được, một cách nào đó, cả cái vị máu trên đầu lưỡi như người ta vẫn làm để huấn luyện đàn chó săn non?

GLAUKŌN: Tôi nhớ chứ.

SŌKRATĒS: Với cùng một cách hành động như vậy trong mọi lĩnh vực, ta có thể lựa ra những em luôn luôn tỏ ra kiên nhẫn nhất trong công việc, can đảm hơn người trước nguy hiểm, nhiệt tình nhất với khoa học.

GLAUKŌN: [537b] Nhưng ở lớp tuổi nào chứ?

SŌKRATĒS: Sau khi bọn trẻ đã hoàn thành khóa học thể dục[11] cần thiết, dài hai hoặc ba năm, bởi vì thời gian luyện tập này không cho phép làm những việc khác. Mệt mỏi và thiếu ngủ là kẻ thù của khoa học; hơn nữa, biết được từng em đã tự thể hiện như thế nào trong khóa học thể dục cũng không phải là tin không quan trọng.

GLAUKŌN: Không, chắc chắn là không.

SŌKRATĒS: Sau thời gian này, kể từ năm hai mươi tuổi, những em được tuyển sẽ nhận được những phân biệt danh giá hơn, [537c] và các khoa học mà khi còn nhỏ họ đã học một cách riêng biệt nay lại được giảng dạy như một tổng thể để họ có thể nắm bắt được dưới một góc nhìn bao quát tương quan của các ngành khoa học này, vừa cái này với cái kia, vừa với bản chất thực của hữu thể.

GLAUKŌN: Vâng, đấy là thứ phương pháp duy nhất mang lại kết quả chắc chắn bất cứ ở đâu áp dụng nó, thứ tri thức duy nhất bắt rễ lâu dài.

SŌKRATĒS: Nó cũng cung cấp một phương tiện tuyệt vời, để phân biệt tinh thần đặc trưng của phép biện chứng với bất kỳ thứ tinh thần nào khác: người biết đặt mình vào quan điểm bao quát là nhà biện chứng, kẻ khác thì không.

GLAUKŌN: Nhất trí.

SŌKRATĒS: Đây là những điểm cậu phải lưu ý. Khi cậu đã nhận ra những em có tâm thế và năng khiếu tự nhiên vững chắc nhất về khoa học, quân sự, và các nhiệm vụ quy định khác, khi họ đã lên tới độ tuổi ba mươi, cậu phải tuyển ra một nhóm tinh hoa mới từ số các em đã được sơ tuyển lúc trước, nhằm trao cho họ những vinh dự lớn hơn. Cậu sẽ phải thử thách họ bằng phép biện chứng, để xác định ai là những người có thể vươn tới thứ tri ​​thức về hữu thể tuyệt đối, chỉ bằng sức mạnh duy nhất của chân lý, không cần tới sự trợ giúp của mắt hoặc các giác quan khác. Nhưng đây cũng chính là lúc chúng ta phải có các biện pháp cảnh giác lớn nhất, Glaukōn thân mến ạ.

GLAUKŌN: Tại sao chứ?

SŌKRATĒS: Há cậu không nhận thấy việc nghiên cứu phép biện chứng hiện nay đang được tiến hành tệ như thế nào ư?

GLAUKŌN: Tệ ở chỗ nào?

SŌKRATĒS: Hoàn toàn bừa bãi, không chuẩn tắc[12].

GLAUKŌN: Thật sự là như vậy.

SŌKRATĒS: Nhưng liệu cậu sẽ nghĩ rằng tình trạng này có một cái gì đó là bất thường, là không thể tha thứ được chăng? Hay cậu sẽ cho rằng nó là tự nhiên, và sẵn sàng nhắm mắt bỏ qua cho những kẻ đã khiến nó xảy ra, hoặc đang đắm chìm trong nó?

GLAUKŌN: Sao lại như thế?

SŌKRATĒS: Thử tưởng tượng một cảnh ngộ như thế này xem. Một đứa trẻ lớn lên trong sự bao bọc [538a] của một gia đình quý tộc giàu có, giữa bao xa hoa và kẻ a dua, xu nịnh; rồi một ngày kia lớn khôn, nó bỗng hiểu được rằng những kẻ tự nhận là song thân của mình không phải là cha mẹ, tuy vẫn chưa tìm ra bố mẹ thật là ai. Cậu có đoán được những cảm xúc và cách hành xử, mà cậu bé rồi chàng thanh niên dành cho đám người a dua, xu phụ và cặp cha mẹ giả định của mình, khi chưa biết rồi sau khi đã thấy được quan hệ ngụy tạo của mình với họ, ra sao không? Hay là để tôi đoán hộ cậu nhé?

GLAUKŌN: Nếu ông sẵn sàng.

SŌKRATĒS: Tôi sẽ nói rằng, trước khi biết sự thực, so với những kẻ a dua, cậu ta sẽ tôn trọng cha mẹ và họ hàng giả định của mình nhiều hơn, [538b] sẽ thấy nhiệt tình giúp đỡ hơn khi họ có nhu cầu, sẽ ít có xu hướng nói hoặc làm điều gì chống lại họ hơn; nói tóm lại, trong những vấn đề cốt yếu, so với những kẻ xu nịnh, cậu ta sẽ ít bất tuân họ hơn, trong suốt thời gian không biết cảnh ngộ thực của mình.

GLAUKŌN: Có vẻ đúng như vậy.

SŌKRATĒS: Nhưng khi vừa biết được sự thật, có vẻ như sự quan tâm và ân cần của cậu ta đối với cha mẹ và họ hàng giả định sẽ giảm xuống tức thì, đồng thời tăng lên đối với những kẻ xu phụ; cậu ta sẽ không còn e dè nghe theo lời khuyên của họ, sẽ công khai giao du với họ, và sống theo kiểu của họ, [538c] trong khi hầu như không còn bận tâm gì đến cha mẹ và họ hàng thân thuộc giả định lúc trước nữa, trừ phi cậu ta cũng là người có một lòng tốt bất thường.

GLAUKŌN: Rất có thể là mọi chuyện sẽ xảy ra như vậy. Nhưng sự so sánh này có liên quan gì tới triết học với phép biện chứng cơ chứ?

SŌKRATĒS: Nó liên quan như thế này. Chúng ta đã được cha mẹ nuôi dạy với những châm ngôn về công lý, danh dự, sự trung thực... ngay từ thuở bé. Và ta đã lớn khôn trong thói quen tuân thủ và tôn vinh uy quyền của chúng như cha mẹ, phải vậy không?

GLAUKŌN: Chính xác.

SŌKRATĒS: Nhưng há chẳng có những châm ngôn trái ngược với chúng sao? Và những châm ngôn này cũng rất quyến rũ, cũng ám ảnh tâm hồn chúng ta như những kẻ xu nịnh, [538d] mặc dù chúng không thuyết phục được những ai trong chúng ta còn có chút lương tri, không xui khiến họ từ bỏ sự tôn thờ và tuân thủ những châm ngôn chân thực do cha mẹ truyền dạy được.

GLAUKŌN : Rõ rồi.

SŌKRATĒS: Bây giờ, hãy để một kẻ thích lý sự đến hỏi người đang ở trong tâm thế này, công lý là gì?, thế nào là trung thực? chẳng hạn. Khi người thứ hai đã trả lời đúng theo những gì từng học được từ miệng của nhà lập chuẩn[12], anh ta bị phản bác. Sau nhiều lần bị bắt bẻ về đủ mọi đề tài như vậy, anh ta cảm thấy bối rối trong mọi hướng suy nghĩ, rồi lòng tin bị đẩy xuống thấp tới mức đâm ra nghi ngờ [538e] liệu có gì đáng gọi là trung thực hơn là không trung thực chăng; rồi cùng một sự nghi ngờ ấy nay sẽ lây lan sang các ý niệm khác mà anh ta vẫn luôn luôn tôn kính nhất — sự công chính, cái tốt lành, và những giá trị khác. Thói quen tôn trọng và phục tùng chúng của anh ta bây giờ sẽ ra sao, theo cậu?

GLAUKŌN: Nó sẽ không còn giống như trước nữa.

SŌKRATĒS: Nhưng khi cậu ta không còn xem những châm ngôn đã nuôi dưỡng mình là tự nhiên và đáng tôn trọng, không còn nhận ra quan hệ họ hàng gắn kết mình với chúng như trước nữa, mặc dù cũng không tìm thấy những giá trị nào [539a] chính đáng hơn, thì liệu cậu ta có thể làm gì khác hơn là buông tay phó mặc cho lối sống nào chiều theo những ham muốn của cậu ta hơn cả?

GLAUKŌN: Không, cậu ta không thể. 

SŌKRATĒS: Nghĩa là nếu trước đây cậu ta tuân thủ pháp luật[12], thì bây giờ cậu là kẻ phiến loạn, phải không?

GLAUKŌN: Chính xác.

SŌKRATĒS: Như vậy, điều đã xảy ra cho những kẻ phải tiếp cận triết học và phép biện chứng trong các điều kiện tương tự đâu có gì là đáng ngạc nhiên, bây giờ có lẽ tôi còn phải nói rằng họ đáng được tha thứ nữa.

GLAUKŌN:. Vâng, số phận của họ thật là đáng phàn nàn. 

SŌKRATĒS : Vậy, để cậu khỏi phải than phiền cho những học viên được tuyển chọn trong số công dân nay đã tuổi ba mươi, ta phải lấy mọi thận trọng trước khi để họ tiếp xúc với khoa biện chứng chứ.

GLAUKŌN : Nhất định.

SŌKRATĒS : Thật ra, ngăn cản họ tiếp thu lý luận biện chứng sớm hơn đã là một thận trọng rồi, đúng không? [539b] Bởi hẳn như cậu cũng đã nhận thấy đấy, khi mới học suy luận biện chứng, bọn trẻ thường lạm dụng nó như một trò chơi. Chúng luôn mồm tranh cãi, rồi bắt chước những người đã phản biện khiến chúng phải luýnh quýnh, cũng tìm cách làm cho kẻ khác bối rối bằng đủ trò bắt bẻ của mình, giống như bầy cún con hay thích thú ngoạm, cắn, kéo ống quần của bất cứ ai lại gần chúng.

GLAUKŌN : Ông tả những thói tật của bọn trẻ đúng đấy. Chúng chẳng thích chi hơn cái trò ấy.

SŌKRATĒS : Rồi sau bao cuộc tranh luận, bao lượt thắng bại, chúng mau chóng và chán chường rơi xuống thứ cảnh ngộ [539c] không còn tin vào những gì trước đây chúng tin tưởng nữa. Và qua đó, chúng cũng tạo cho người đời cơ hội và thói quen nhạo báng, gièm pha triết học, và tất cả những gì liên quan.

GLAUKŌN : Quả đúng như thế.        

SŌKRATĒS : Chỉ đến một lớp tuổi chín chắn hơn, may ra chúng mới chấm dứt được thói xấu này. Khi không còn thấy hứng thú phản bác kẻ khác để đùa nghịch nữa, chúng mới có thể bắt chước những người thực hành lý luận biện chứng một cách đứng đắn nhằm theo đuổi chân lý. Chỉ như vậy triết học mới hết bị gièm pha, và cùng với các triết gia, [539d] khôi phục lại được cái phẩm cách vốn có của mình.

GLAUKŌN : Được thế thì còn gì bằng!

SŌKRATĒS : Chính trong cùng một tinh thần thận trọng như vậy mà trước đây chúng ta đã chủ trương chỉ nên nhận đào tạo về suy luận biện chứng cho những trí tuệ nghiêm túc và vững chãi, chứ không phải cho bất cứ kẻ không có tâm thế nào về nó cả, như hiện nay.

GLAUKŌN: Phải như vậy thôi.

SŌKRATĒS: Giả sử rằng triết học và phép biện chứng nay được dạy thay cho thể dục như một môn học chuyên biệt và liên tục, với một lượng thời gian dài gấp đôi những năm tháng dành cho sự huấn luyện thân thể, thì liệu như thế đã đủ chưa?

GLAUKŌN: Ông nghĩ bao nhiêu năm? Bốn hay sáu?

SŌKRATĒS: Cứ cho là khoảng năm năm đi. [539e] Sau đó, cậu sẽ đưa họ trở xuống hang lần nữa, buộc họ thực hiện các nhiệm vụ quân sự và các chức năng dành cho giới thanh niên khác, để họ không tụt hậu so với những công dân thường về kinh nghiệm sống. Đây cũng là cơ hội để đặt ra những thử thách mới cho họ: cậu sẽ quan sát xem, khi bị cám dỗ đủ mọi cách từ mọi phía, [540a] liệu họ sẽ tỏ ra kiên định chăng, hoặc sẽ chao đảo?

GLAUKŌN: Những thử thách này sẽ kéo dài bao lâu?

SŌKRATĒS: Mười lăm năm. Đây là lúc phải đưa những người, ở tuổi năm mươi, đã vượt qua những thử thách này và đã tự chứng tỏ bản thân trong cuộc sống cũng như trong khoa học, đến với giai đoạn cuối. Nay đã đến lúc họ buộc phải hướng con mắt của tâm hồn nhìn lên cấp hữu thể soi sáng vạn vật để, một khi đã chiêm nghiệm được bản chất của cái Tốt tuyệt đối*, họ có thể dùng nó như một mô hình [540b] nhằm cai trị vứa nhà nước, vừa từng cá nhân, vừa bản thân. Mặc dù hầu như lúc nào cũng bận rộn nghiên cứu triết học như vai trò chính, mỗi khi đến lượt mình, họ vẫn sẽ gánh vác gánh nặng của quyền lực và bổn phận cai trị vì công ích, không phải như một hành động anh hùng hay một vinh dự, mà chỉ đơn giản như một nghĩa vụ không thể thiếu. Rồi sau khi đã làm việc không ngừng nghỉ để đào tạo nên những con người giống như họ cho thế hệ tiếp theo, và để lại một lớp người kế nhiệm xứng đáng cho vai trò cai quản Nhà nước, họ sẽ có thể rời bỏ cuộc sống này để về trên Phúc Đảo[13], nơi dành cho những người được hưởng ân phước. Nhà nước sẽ [540c] lập tượng đài và tổ chức lễ hiến tế công cộng để vinh danh họ, dưới bất kỳ danh nghĩa nào mà đồng cô ở Pythia cho phép, như bán thần, thần hộ mệnh hoặc ít ra là những hồn thiêng được ban phước.

GLAUKŌN: Như một nhà điêu khắc tài ba, ông vừa tạo ra những chính trị gia tuyệt vời đấy, Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS: Phải nói thêm là cho mọi nhà chính trị, cả nam lẫn nữ[14], Glaukōn thân mến ạ. Đừng nghĩ rằng những gì tôi nói chỉ áp dụng cho đàn ông mà thôi, chúng có giá trị cho cả phụ nữ nữa, mỗi khi họ có được thứ năng khiếu phù hợp.

GLAUKŌN: Phải như vậy chứ, nếu phải có sự bình đẳng giữa hai giới, như chúng ta đã xác định.

SŌKRATĒS: (nói với Adeimantos và Glaukōn) Vâng, các bạn của tôi ơi, bây giờ các bạn có thừa nhận chăng, rằng dự án của chúng ta về Nhà nước và chính quyền không chỉ đơn thuần là một giấc mơ, mà có thể thực hiện được dù chắc chắn là rất khó khăn? Tuy nhiên, nó chỉ có thể thực hiện được trong điều kiện đã nói cụ thể là khi một hoặc nhiều triết gia đích thực [540d] được đưa lên đứng đầu Nhà nước. Họ sẽ xem thứ danh dự được tìm kiếm trên đời ngày nay là phú phiếm và không xứng đáng với một con người tự do; họ chỉ coi trọng bổn phận và những danh dự vốn là phần thưởng của nó; họ sẽ xem công chính [540e] là giá trị quan trọng và thiết yếu vào bậc nhất, sẽ mang hết tâm sức ra cống hiến cho công lý, và nỗ lực phục vụ để công lý được thực thi khắp nơi như nguyên tắc cải cách Nhà nước.

GLAUKŌN: Như thế nào, chẳng hạn ?

SŌKRATĒS: Họ sẽ trục xuất mọi công dân trên mười tuổi về nông thôn;  [541a] bằng cách đó, họ đã đưa con cái của những công dân này thoát khỏi ảnh hưởng của thứ phong tục hiện hành, vốn cũng là phong tục của cha mẹ chúng[15]. Họ sẽ nuôi dạy chúng theo các phong tục và nguyên tắc mới của họ, đấy là những nguyên tắc mà chúng ta trình bày. Đây sẽ là cách nhanh nhất và chắc chắn nhất để thành lập thứ Nhà nước và Hiến pháp như chúng ta đã nói đến, để làm cho người dân của thành quốc, ở nơi nào thứ Nhà nước và Hiến pháp đó được thành lập, mau chóng thịnh vượng.

GLAUKŌN: Không còn nghi ngờ gì nữa. Nếu cái dự án của chúng ta có thể thực hiện6 được bao giờ, thì tôi tin rằng ông đã tìm ra cách để thực hiện nó đấy, Sōkratēs ạ.

SŌKRATĒS: Như vậy, hẳn chúng ta không cần phải kéo dài thêm cuộc thảo luận về Nhà nước hoàn hảo nữa. Còn về loại cá nhân mang hình ảnh của nó, thiểt tưởng việc mô tả họ theo những nguyên tắc của chúng ta cũng chẳng khó khăn gì, phải không?

GLAUKŌN: Rất dễ dàng. Và thế là, đúng như ông nói đấy, chất liệu bàn bạc đã cạn kiệt.

Platōn,

Republic = République,

VII, 521d-538ō

 

[1] Trong phần này, Platōn xác định tuổi học và thời gian cân thiết cho mỗi giai đoạn trong quy trình đào tạo lý tưởng của ông. Sau giai đoạn giáo dục truyền thống* (cho đến tuổi 18) và 2 năm ephēbeia (xem ct 11 bên dưới), các tuyển sinh sẽ được đào tạo theo quy trình giáo huấn sau: từ tuổi 20 đến 30, theo học các khoa học dự bị trong 10 năm; từ 30 đến 35 tuổi, theo đuổi biện chứng (triết) học; từ tuổi 35 đến 50, trở lại với đời sống công cộng, đảm nhận các trách nhiệm quân và dân sự được giao phó; cuối cùng, từ 50 tuổi trở lên mới có thể được chỉ định thay phiên lãnh đạo thành quốc, song song với nhiệm vụ nghiên cứu triết học.

Tuổi

Môn học hoặc Nghĩa vụ

01 - 18

Giáo dục truyền thống

18 - 20

Ephēbeia

20 - 30

Số học, Hình học, Thiên văn học, Âm nhạc

30 - 35

Biện chứng (Triết) học

35 - 50

Trách nhiệm quân sự hay dân sự trong cộng đồng

50 - ...

Thay phiên cai trị thành quốc hoặc Nghiên cứu triết học

[2] Điểm khác nhau cơ bản của quy trình đào tạo mà Platōn quan niệm so với nền giáo duc truyền thống là sự tuyển chọn học viên, và đào tạo họ để cai trị thành quốc, hơn thế nữa, để cai trị như triết gia, như một Sōkratēs luôn luôn khắc khoải với các giá trị hiểu biết, công chính, dũng cảm, tiết độ.

[3] Trong một số bản dịch Anh, Pháp mới : bastards = bâtards = con không chính thức, không được thừa nhận. Ám chỉ giới biện sĩ, những người trong trào lưu du sư hay du giáo (sophists) đã đến Athēnai không phải để dạy triết học, mà dạy thuật hùng biện như vũ khí để sử dụng trên các võ đài chính trị và tư pháp (Đại Hội Quốc Dân Ekklesia, Hội Đồng Đại Biểu Boulē, và hệ thống toà án Heliaia). Khi có thể tham khảo, xem trên trang mục Triết Học - Cổ Đại : Nguyễn Văn Khoa, Athēnai và Chế Độ Dân Chủ.

[4] Sự dối trá có chủ ý giả định rằng ta biết sự thật, và ta lừa dối kẻ khác một cách có ý thức; sự dối trá vô tình giả định rằng ta lừa dối kẻ khác và chính mình mà không biết – nghĩa là do ta không biết sự thật, nên những ý kiến được ta nói ra là sai. Như vậy, đặc điểm của sự dối trá vô tình, vì chỉ dựa trên ý kiến, là do nó không ý thức được sự dốt nát của chính nó, trong khi như Sōkratēs dạy, sự hiểu biết nằm trước hết ở nhận  thức về sự ngu dốt của chính mình. Khi có thể tham khảo, xem thêm về sự dối trá lớn và sự dối trá thực sự nơi các ct 17 và ct 42 trong Platōn, Thần Thoại & Dối Trá trên trang mục Huyền Thoại & Ẩn Dụ.  

[5] Học viên sẽ không biết sử dụng khoa biện chứng một cách nghiêm nhặt, nếu thiếu  năng khiếu và không được đào tạo về trí tuệ; họ cũng sẽ không thể sử dụng biện chứng học một cách lành mạnh, nếu thiếu năng lực thân thể và không được đào tạo về quân sự, thiếu phẩm chất tinh thần và không được đào tạo về dân sự (xem 535a-b ở trên).

[6] Xem lời dẫn ở đầu phần A) Sơ Đồ Các Môn Học...

[7] Trong một đoạn bàn luận trước về sự lãnh đạo trong thành quốc, chính Sōkratēs cũng đã từng phát biểu: «Há không rõ ràng là người cao tuổi hơn phải lãnh đạo, còn kẻ thấp tuổi hơn phải tuân thủ hay sao?» (Republic, III, 412c)

[8] Solōn (khg 638–558) là nhà buôn, nhà chính trị, nhà lập pháp, nhà thơ. Về chính trị, ông được ghi nhớ như người đã nỗ lực cải tổ bằng pháp luật thành quốc Athēnai đang suy đồi về mọi mặt: viết nên bản hiến pháp đầu tiên, lập ra và đặt một số thiết chế chính trị mới vào tay các tầng lớp thấp kém trong xã hội, tạo nền tảng lâu dài cho chế độ dân chủ ở đây. Về thơ văn, ông viết để cổ vũ cho sự tin yêu thành quốc, và nhằm bênh vực những cải cách của mình. Solōn còn được xem là một trong bảy hiền giả của Hy Lạp cổ đại. Thế nhưng hiểu biết về ông của đời sau là rất hạn chế, vì ngoài sự nghèo nàn tư liệu về Athēnai vào đầu thế kỷ thứ VI tCn, trước tác của ông chỉ còn lại trong tình trạng mảnh rời, và các tác giả cổ đại viết về ông – Hērodotos và Ploutarkhos, nguồn tư liệu chính, chẳng hạn – đều viết sau khi ông mất rất lâu, và trong thời kỳ sử học còn phôi thai.

[9] Ở đây, Platōn có vẻ như phủ nhận ý kiến gán cho Solōn, theo đó người già có thể học hỏi được nhiều và nhanh hơn người trẻ, khác với trong Lachès (188b), khi ông để cho Nikias nhắc nhở Lysimakhos một phát biểu cũng được gán cho Solōn, rằng con người phải muốn học và tìm học suốt đời, chứ không bao giờ được nghĩ rằng lý trí và sự khôn ngoan sẽ tự nó đến với tuổi tác. Câu văn trong Lachès gần hơn với tư liệu Life of Solōn của Ploutarkhos, theo đó Solōn đã từng nói «Mỗi ngày tôi một học được nhiều thứ hơn với tuổi tác» (Ploutarkhos, Parallel Lives, I).

[10] Các môn học dự bị và khoa biện chứng đều là những sinh hoạt cao quý, vì chúng không nhằm trước hết vào mục đích trục lợi, đồng thời giả định một sự rỗi rãi mà chỉ những con người tự do mới có thể hưởng thụ. Đấy cũng là điều kiện xã hội của những người là công dân ở Athēnai; mọi công việc tay chân thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày, trái lại, đều được phó thác cho thành phần nô lệ của thành quốc. Ở đây, hệ tư tưởng và hiện thực xã hội hoàn toàn ăn khớp.

[11] Theo tổ chức truyền thống ở Athēnai, mỗi nam thanh niên đến 18 tuổi đều phải ghi tên vào một danh sách để Hội đồng dēmos kiểm soát tuổi tác và quốc tịch, trước khi đưa đi huấn luyện quân sự. Định chế nhằm xác định tuổi và tư cách công dân này gọi là ephēbeia, và  ephēbos (sn ephēboi) là từ chỉ một thanh niên nam đến tuổi có thể trở thành công dân, do đó, cũng đồng thời chỉ nhóm tuổi 18 - 20 và quy chế công dân trưởng thành của nhóm tuổi này. Thời kỳ quân huấn này bắt đầu bằng một biện pháp khai tâm tôn giáo: các công dân dự bị (neopolitai) được hướng dẫn hành hương tại tất cả các đền thờ của thành quốc. Rồi sau một năm tập luyện, đương sự sẽ nhận lãnh vũ khí như một hoplitēs, sau khi đã tuyên thệ trung thành với thành quốc. Kể từ năm thứ hai, các ephēboi được phân phối cho các trại quân trong khắp vùng Attikē để làm nghĩa vụ quân sự và dân sự (xây thành lũy, làm đường xá, cầu cống...). Chỉ sau thời kỳ ephēbeia nói trên, họ mới được xem là công dân trọn vẹn (epitimoi, kẻ có tất cả mọi quyền công dân: sở hữu nô lệ, đất đai, có người thừa kế, tham dự các nghi lễ tôn giáo, và tham gia vào các định chế chính trị theo điều kiện hiến định); ngược lại, phải luôn luôn sẵn sàng bị động viên (cho đến tuổi 60 theo một số tài liệu). Đến thế kỷ thứ III, ephēbeia được rút lại còn 1 năm, mất tính chất bắt buộc và công phí, trở thành một định chế bao gồm vừa các buổi đào tạo quân sự, vừa những buổi học tại các bãi vận động.

[12] Khi bác bỏ một định nghĩa bản chất, một quan niệm phổ quát về công chính chẳng hạn, tựu trung các nhà biện sĩ đều cho rằng cái ta gọi là công lý, và rộng hơn, mọi giá trị tinh thần, do không có nền tảng khách quan nào cả, đều chỉ là những ý kiến, những quy ước, khác nhau tuỳ nơi, tuỳ thời. Thái độ này dẫn tới chủ nghĩa tương đối trong mọi lĩnh vực, đạo lý, chính trị, pháp luật, ... Trong một xã hội vô chuẩn tắc hay loạn chuẩn, một khi không còn ai tôn trọng đạo lý con người, cũng sẽ không còn công dân nào tôn trọng pháp luật, sẽ chỉ còn những kẻ phiến loạn.

[13] Phúc Đảo (Isle of the Blessed = Île des Bienheureux) hay Lạc Trường (Elysian Fields = Champs Elysées) là tên một tầng của cõi âm Haidēs. Haidēs là tên vị thần của âm thế, (Haidēs là Zeus Katachthonios = Underground Zeus = Zeus của phần bên dưới mặt đất), nên Haidēs cũng đồng thời là tên của cõi âm. Haidēs là con cả của Kronos với Rhea, và là anh của Poseidōn và Zeus. Các anh em Haidēs đánh bại nhóm thần Titānes, rồi chia quyền cai quản thế giới. Zeus được bầu trời, Poseidōn đại dương, Haidēs địa phủ, và cả ba cùng cai trị mặt đất. Haidēs còn được gọi bằng nhiều uyển ngữ như Pluto (do tên Hy Lạp Ploutōn = kẻ giàu có, từ danh từ gốc là ploutos = wealth = richesse ; Sophoklēs giải thích: «Haidēs u ám làm giàu bằng tiếng thở dài và nước mắt của thế nhân»), là Klymenos («kẻ vang danh»), là Polydegmōn («kẻ nhận vô số khách») để thay cho một cái tên khi thốt ra tự cảm thấy bất an. Theo Homêros, cõi Haidēs nằm ở nơi không có mặt trời, một truyền thống khác đặt nó ở trung tâm Trái Đất, được nối liền với dương thế bằng một hệ thống hang động thăm thẳm và 5 con sông lớn: Akherōn (Sầu não), Lēthē (Lãng quên), Kokytos (Rên rỉ), (Pyri)Phlegethōn (Lửa đỏ) và Styx (Hận thù). Một người lái đò tên là Kharōn đưa các linh hồn qua đầm Akherōn, và tùy hoàn cảnh, các con sông khác, đổi lấy mảnh obolos (đồng tiền do thân nhân đặt vào miệng trước khi chôn) mà xác chết ngậm trong mồm. Như cõi âm, Haidēs có nhiều tầng và là nơi những bóng ma hay linh hồn sẽ bị xét xử, trừng phạt hoặc ban thưởng bởi ba quan tòa là Aiakos, Minōs, và Rhadamanthys: hồn người tốt lành sẽ được đưa đến Phúc Đảo (Ēlysion pedíon = Isle of the Blessed = Île des Bienheureux) hay Lạc Trường (Elysian Fields = Champs Elysées), kẻ thường tình sẽ ở lại cánh đồng Asphodelos (Asphodelos leimōn = Asphodel Meadows = Prairie de l’Asphodèle), còn kẻ xấu ác sẽ bị đày sâu xuống tận Tartaros (địa ngục cửa sắt then đồng, muôn đời tăm tối, nơi mà «khoảng cách với Haidēs cũng xa như giữa Trời với Đất» (Homēros). Diêm Vương Haidēs ngự trị trên cõi âm với sự trợ giúp của vợ là Persephonē, tên lái đò Kharōn, và con chó Kerberos ba đầu cổ quấn rắn độc, Haidēs cai quản âm thế một cách tàn nhẫn và không nhân nhượng: không để cho bất cứ ai đã xuống đây có thể trở lên dương thế.

[14] Về điều kiện sinh hoạt và sự bình đẳng nam nữ, xem trên trang mục Triết Học - Cổ Đại khi có thể tham khảo: Platōn, Điều Kiện Sinh Hoạt & Sự Bình Đẳng Nam Nữ (Republic, V, 451c-452a).

[15] Biện pháp đầu tiên này đặt ra nhiều vấn đề. Thứ nhất, phải chăng mọi tập tục, ý tưởng của cha mẹ những đứa trẻ, trong đó có các giá trị mà họ truyền dạy, và có vẻ như cũng được chính Platōn «thông qua» (xem 538c) – nói rộng hơn nữa, toàn bộ hệ thống giá trị truyền thống của Hy Lạp cổ đại – đều đáng xoá bỏ? Thứ hai, chính vì loại biện pháp áp đặt bạo lực này mà đời sau đánh giá Politeia như tác phẩm chính trị «tiếng khóc đầu đời» của chủ nghĩa toàn trị; dù sao, nó không khỏi khiến độc giả ngày nay liên tưởng tới chính sách cải tạo xã hội tận gốc rễ của cuộc cách mạng Khmer Đỏ  ở Đông Nam Á trong những năm 1975-1979.

CHUYÊN TRANG CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU Nguyễn Văn Khoa